Posted by: basaigon on: 29/01/2010
Posted by: basaigon on: 17/01/2010
Nhatsibaothu: http://langdu126.multiply.com/journal/item/141/141
Truớc hết mong các bạn gần xa đừng hiểu nhầm rằng lão già này chắc có dấu hiệu “gở chết” nên lại muốn “thú tội” yêu đương nhăng nhít gì thời quá khứ đây?Không phải!Tuyệt đối không phải!NGƯỜI đây là…giống đực.!Ông ta không hề quen tớ,tớ cũng chưa hề gặp mặt nhưng ông ta khá “nổi tiếng” trong Quân Đội Nhân Dân anh hùng thời chống Pháp… Những chi tiết về cuộc đời và cái chết “dựa cột” của ông ta ,tớ chỉ biết thêm nhờ sau này có cả một quá trình làm việc với…vợ ông ta,một ca sỹ Nghệ sỹ Nhân Dân,hơn tớ 4 tuổi (mất năm 1989),mà cái đám cưới linh đình ,xa hoa,tốn kém,phớt lờ dư luận đã là chứng cớ duy nhất không thể chối cãi , đã được phổ biến công khai dẫn ông đến… Tòa án binh để nhận một bản án tử hình đầu tiên và duy nhất dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.!Các đồng ngũ,đồng khóa,đồng niên của tớ giờ này ai còn sống đã nhớ ra là ai rồi chứ?Vâng!Ông ta là Trần Dụ Châu,đại tá (Chắc.. “tự phong” vì những năm 49-50,chưa hề có phong quân hàm)Cục Trưởng Cục Quân Nhu Bộ Quốc Phòng,chồng của ca sỹ nổi tiếng đất Bắc mà tớ vừa nói trên!
Để viết đoạn mở đầu này ,tớ đã phải lục xoát lại bộ nhớ xem cái gì mình còn lưu giữ được và phải gọi điện gần chục cuộc gọi đường ngắn ,đường dài cho những nhân chứng còn sống mà tớ quen để xác minh tài liệu..Kết quả cho thấy tóm tắt như sau:
1- Không có chứng cứ về tham ô,ăn cắp,ăn cướp tiền của nhân dân,không có con số tiền cụ thể,nhà đất,villa,tòa ngang dãy giọc nào,không có mét vuông ruộng đất nào và vợ mới cưới cũng nghèo “mạt rệp” cho đến tận cuối đời dù chẳng phải tịch thu,kê biên tài sản nào “do lợi dụng chức vụ,chức quyền mà có”
2- Tòa kết tội chỉ là “Đảng viên biến chất,ăn chơi sa đọa,tiêu tiền của công vào những việc cá nhân mà điển hình là cái đám cưới rềnh rang toàn của ngon,vật lạ,thuóc lá Mỹ,rượu Tây…..Khách mời đủ loại,kể các quan chức cao cấp đến những nhân vật đi,đi,về,về nội thành Hà-Nội như đi chợ (tổ chức “kinh tài”của Cục Quân Nhu lúc bấy giờ)Nói một cách khác,tội của ông ta,chủ yếu là tội ‘TRONG LÚC QUÂN DÂN TA ĐANG ĐÓI KHỔ THIẾU THỐN ĐỦ ĐƯỜNG THÌ MỘT SỸ QUAN CAO CẤP LẠI LẤY TIỀN CỦA NHÂN DÂN CHI TIÊU CHO ĐÁM CƯỚI MÌNH MỘT CÁCH SA HOA LÀM MẤT UY TÍN CỦA CÁCH MẠNG CỰC KỲ NGHIÊM TRỌNG…(một lời buộc tội công khai,trước cả ông chánh án Tòa án binh ,của nhà văn,đại biểu quốc hội Đoàn phú Tứ ,ngay tại bữa tiệc cưới linh đình khi ông được mời đến “dự khán”…và ngay tại chỗ, ông đã đâp cốc rượu xuống bàn bỏ ra về…sau khi phẫn nộ buông ra câu nói trên….Và ít tháng sau thì… ông về… thẳng Hà Nội !).
3- Nội dung phiên tòa xử ông ra sao,rất ít người được biết,đựoc dự,luật sư nào đâu còn trong tự điển tiếng Việt, Báo chí thời ấy,kể cả luật pháp ai cũng mù mờ…Tất cả chỉ là..”nghe nói” vậy mà chỉ nghe nói thôi về các tội của TDC, ai ai cũng thấy ;”Thật Đáng Đời!Chỉ cần một chứng cớ duy nhất về cuộc sống ăn chơi,xa đọa,tổ chức lễ cưới như “đám cưới một tên tư sản mại bản” giữa lúc toàn dân đang cố “cầm cự để tiến tới tổng phản công”,”quân đội thì ”kaki sợi đúp ,mũ úp lồng gà”(vải dệt kiểu bao tải và mũ tự đan kiểu đan lồng gà có vải bọc ngoài)thì ai cũng nhận thấy vụ xử tử này là công minh hết mực rồi!
4- Sau nhiều chục năm trời,có nhiều dịp làm việc cùng ca sỹ Th.H., tôi đã được biết thêm nhiều chi tiết là : Tên tử tù TDC chẳng để lại cho bà được một xu nào. Ngòai cái đồng hồ Wyler cũ kỹ và… cái tai tiếng là “vợ của một quan to” tham nhũng. Bà còn kể vanh vách về những cách sống “coi trời bằng vung” của ông chồng đã làm mọi người, kể cả bà,“phát khiếp”. Tuyệt đối không bao giờ bà dám nói một câu minh oan cho chồng. Thậm chí có lần nói chuyện với tôi và ông Nguyễn Đình Quý,Trưởng Phòng âm nhạc của tôi, về vụ án đó bà còn kết luận một cách hồn nhiên: “Mới đầu mình đâu có biết ông ấy “gan to” như vậy. Ông ấy cứ tưởng được Đảng bảo vệ, được nhiều đồng chí ủng hộ, nào ngờ….Thôi thì ít nhất ông ấy cũng làm cho khối kẻ muốn ăn cắp của công cũng phải giật mình!”
Chuyện vợ chồng của ông TDC và bà Th H,tớ chẳng bao giờ nghĩ tới,nhắc lại, kể cả những dịp làm việc với em trai bà,cháu ruột bà,nhất là từ khi tớ về hưu,xa lánh cõi trần…ải,trần ai!
Vậy mà, cả tuần qua, tin tức báo chí cũng như xem trên truyền hình, tớ bỗng nhớ tới cái tên ông và bà vợ đã làm ông đi tù rồi phải “dựa cột “. Lí do: Từ những lạc quan ban đầu về việc “có ai đó bật đèn xanh” nên báo chí liên tiếp đưa lên trang đầu những con số, những con người, những vụ việc mà Ban Kiểm Tra Trung Ương, Cơ quan kiểm tóan nhà nước đã cho phép phanh phui trên báo chí, tớ mừng quá và còn viết trong entry hô hào họ hãy tiến lên, “đánh nhanh giải quyết gọn” kẻo bỏ lỡ cơ hội hoặc bị “phản công” lại thì lại khối anh tổng biên tập, nhà báo mất chức hoặc đi tù.,,như chơi! Không những thế, tớ còn đào sâu vào các tổ chức, cơ quan hoặc cá nhân “có vấn đề” như vụ SCIC ,như vụ cướp đất, bán nông trường, tước quyền sở hữu đất bồi của nông dân để chia cho các gia đình quan chức ở Đồng Nai, Ninh Thuận, Đồng Tháp, … mong dồn họ sớm đến con đường “dựa cột” như TDC thì hạnh phúc cho dân mình biết mấy!Nào ngờ lại chính tớ được tai nghe mắt thấy những lời “phản công” của bọn họ đã bắt đầu.
1) Vụ SCIC : Chính đích thân Bộ Trưởng Bộ Tài Chính kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị SCIC, chỉ trong một tuần đã hai lần “nói lại cho rõ” trên báo chí :- Rằng thì là : Ông bị thủ tướng bắt buộc kiêm chức chủ tịch hội đồng quản trị mà ông rất không muốn, rằng thì là :lương “chỉ có” 40 triệu, còn lại là tiền làm thêm, tiền ăn trưa,tiền điện thoại….Để lời giải trình thêm nặng kí , bà Bộ trưởng Kim Ngân còn bổ sung thêm cả tiền… trang phục !?(SCIC không mặc đồng phục, vậy thì trang phục ở đây có thể hiểu là Com lê, Cà- vạt, giày, tất, đồng hồ, kính râm, kính lão…các-táp,va-ly… có khi còn có cả nhẫn kim cương, chuỗi hạt ngọc của các quan chức nữ nữa chăng?) Để rồi bà kết luận rằng, so với “mặt bằng xã hội” hiện nay thì…không có gì là quá đáng. Không những thế, một số “thầy cãi” còn tung hỏa mù lên một số “báo chí lề phải”một loạt thông tin về lương doanh nghiệp này,trường Đại Học khác còn cao gấp 2,gấp 3 lương SCIC ấy chứ!Vậy mà Ban kiểm tóan đâu có khui ra.?Đến nỗi thủ tướng, trong cuộc họp thường trực chính phủ đã phải xuống giọng như: “…Do việc điều chỉnh mô hình tổ chức hoạt động và quản lí của SCIC làm còn chậm nên chế độ tiền lương, tiền thưởng không có cơ chế riêng mà phải thực hiện theo cơ chế hiện hành như các doanh nghiệp nhà nước khác nên đã bộc lộ sự chưa phù hợp … rôi thì..…”thủ tướng giao Bộ lao động thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với Bộ nội vụ, Bộ tài chính, căn cứ quy định hiện hành, phân tích, làm rõ tình hình hợp pháp và hợp lí của việc tính tóan, xác định đơn giá tiền lương, kế hoạch và thực hiện năm 2008 của SCIC…từ đó rà soát chế độ tiền lương phải sớm trình chính phủ nghị định về” quản lí tiền lương và quản lí nhà nước.”( Tuổi Trẻ ngày 16/1/2009) Vậy là đã rõ : Sở dĩ có những đồng tiền “lương trên trời” này chẳng qua chỉ là do chưa có cơ chế về tiền lương cho những tổng công ti như SCIC mà thôi. Chuyện này tưởng to như con bò nhưng hóa ra… nhỏ như con kiến
2) Vụ tên tiến sĩ Lê Dũng cướp đất của những tên” lâm tặc hòan lương”: – Tớ phải gọi tên này là “siêu đất tặc”(thay cho chữ “quan đất” của Tuổi Trẻ) vì hắn cả gan cướp tới 6400m đất của những tên lâm tặc nay được Đảng giao cho đất để… hòan lương, đổi đời . Nhân danh thường vụ tỉnh ủy Đồng Nai, giám đốc một loạt các sở hết tài chính đến môi trường mà phỗng tay trên hoặc “mua khéo” lại của các lâm tặc này.. Từ giã cái “phao câu gà” Nimh Thuậm để về làm cái “đầu trâu nhỏ bé” thị xã La-Gi,nhưng hắn còn được giữ nguyên chức thường vụ tỉnh ủy. Vụ việc chỉ được phanh phui khi hắn đã từ bỏ miếng “phao câu gà” và chẳng hiểu đã kiếm chác gì được ở cái đầu trâu lớn chưa?.Vậy mà hắn trên cương vi mới,hắn chỉ bị “đề nghị với Trung Ương kỉ luật: cách chức tỉnh ủy viên!? Chẳng cần chờ kết luận thì ai cũng biết: Cái tên “tiến sĩ” này quả là “siêu” vì nó đã nắm được những “yểm huyệt” của các “ông trên” khi trao cho nó cái bằng “tiến sĩ siêu ăn cướp”. Tớ lại thấy “phe ta” bị “phe nó” bịt miệng, chặn đường mất rồi!Buồn thật!
3) Vụ Phạm Hạnh Thu- tổng cục trưởng tổng cục thuế và các vụ cướp đất “lặt vặt” khác-: Với thành tích mua đi bán lại 28 lô đất tại dự án khu dân cư đường Đồng Khởi, thành phố Biên Hòa và giao cho vợ là Trần Thị Tuyết đứng tên,khi Thu còn làm cục trưởng cục Hải quan Đồng Nai, cũng như các vụ cướp đất cướp nhà, cướp bãi bồi của dân làm kinh doanh thủy sản…ở Vũng , Đồng Tháp,buôn đi bán lại đất ở Vũng Tầu… đều được kiểm điểm sơ qua và báo chí lại đồng loạt đưa tin các nhà cầm quyền địa phương đã “chỉ đạo trả lại đất, trả lại tiền cho dân”. Thậm chí, có trường hợp bà Trần Ngọc Anh, vợ chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp(trường hợp này có lẽ chồng chỉ đạo vợ?) và một số cán bộ được ưu ái cho “thuê đất sai quy định”, còn được đề nghị “hỗ trợ tiền đầu tư xây bờ bao, đào ao thả cá trong thời gian “lỡ” chiếm đất sai quy định”!!!. Chẳng có một “mặt mốc” nào bị truy tố trước tòa ,ngòai mấy lời tuyên bố như nhắn nhủ “trên tình đồng chí” rằng…”không nên để vợ con dính vào những chuyện đất đai mua đi bán lại dù mua bán có chi trả,có giấy tờ đàng hoàng, tránh ảnh hưởng đến uy tín của một cán bộ lãnh đạo, (vụ ông Thu)
4) Vụ “thâm cung” 112: – Sở dĩ gọi là “thâm cung” vì nó xảy ra ở ngay chính văn phòng thủ tướng mà báo chí cũng như cơ quan điều tra đã chỉ mặt đặt tên rõ ràng, thống kê con số tiền ăn cắp trắng trợn cụ thể của những tên chịu trách nhiệm công nghệ thông tin hóa bộ máy của nhà nước. Vụ này dính líu tới một loạt cán bộ cao cấp nằm ngay ở cơ quan tham mưu cho thủ tướng.Hầu hết đều là cán bộ cấp cục,vụ,thứ trưởng …lương cao (và điều kỳ lạ là một số đều mang họ là… Lương Cao (!)như Lương Cao Sơn, Lương Cao Phi, …(Lương Cao gì gì nữa tớ không nhớ nổi)… và đều đã bị bắt giam để “điều tra làm rõ” hơn một năm trời…. Tiền của chúng ăn chia với các công ti lên đến hàng chục tỉ và đều bị bắt tạm giam. Vậy mà, khi ra trước tòa, tất cả bọn chúng đều phản cung, không chịu nhận tội! Không những thế, chúng còn “tố “lại cơ quan điều tra đã ép cung, mớm cung để được đổi lấy điều kiện được tạm tha (thì ra “bị bắt có thời hạn”!) chờ ngày ra tòa. Thậm chí, Tuổi Trẻ thứ bảy 16/1/2010 còn chạy tít khá lớn “CÁC BỊ CÁO KHẲNG ĐỊNH LÀM ĐÚNG PHÁP LUẬT’. Tớ buộc lòng lại phải đặt câu hỏi: Phải chăng phe tham nhũng đang phản công lại phe chống tham nhũng? Riêng tớ thì tự trách mình : lại một lần nữa, tớ đã biến mình thành một… “thằng con nít có râu” rồi!Quá dễ vui để rồi quá dễ buồn!
Và cứ thế, tớ bực với cái thói đời đảo điên,ngả nghiêng,, đen bạc thì ít mà giận cho cái tính cả tin và hi vọng hão huyền của tớ “về một sự thay đổi lớn đã có giấu hiệu bắt đầu”…Đúng là vô duyên!cực kỳ vô duyên!
Thế rồi…, đêm nằm tức không ngủ được, tớ bất chợt nhớ tới một người..Người đó chính là Trần Dụ Châu, kẻ đã “lấy tiền nhà nước chi tiêu cho cá nhân”, đảng viên “biến chất” đến nỗi phải nhận án tử hình…mà “toàn dân đều phấn khởi đồng tình”…cách đây nửa thế kỷ! Càng giận lũ ăn cắp, ăn cướp hiện đại,ăn cắp,ăn cướp có chỗ dựa ,có bằng cấp. tớ bỗng dưng thấy “thương hại” (không dám thương xuông đâu nhé!)cho người tử tù xưa. Giá mà ông ta sống giữa thời đại này, cùng lắm cũng chỉ là khiển trách, hoặc “thôi giữ chức”, hoặc “hủy chức vụ”!-( cụm từ mới nhất tớ mới đọc được trong vụ Jetstar Pacific) chứ đâu đến nỗi để sử sách lưu “bẩn danh”cho tới ….vài đời con cháu sau này.,
Liệu tớ có “để trái tim lên trên cái đầu” khi viết entry này không các bạn?
Posted by: basaigon on: 15/01/2010
Chúng ta nên bắt đầu tìm hiểu sự việc từ mối quan hệ giữa các nhà cung cấp Trung Quốc và các nhà nhập khẩu Phương Tây. Các nhà sản xuất của Trung Quốc là cứ “tiền trao cháo mới múc” – họ nhận tiền trước để sản xuất những mặt hàng mà các công ty nước ngoài yêu cầu. Đây chính là điểm mấu chốt để các nhà sản xuất của Trung Quốc có cơ hội “cắt xén”.
Chỉ sau khi các lô hàng “Made in China” được đưa đến nơi thì các công ty Phương Tây mới vỡ lẽ là hàng hóa có chất lượng kém. Việc kiện các nhà máy của Trung Quốc ra tòa là không đơn giản, vì các đối tác Phương Tây sẽ vấp phải một hệ thống pháp luật Trung Hoa phức tạp một cách có tính toán.
Sự thực, các nhà sản xuất Trung Quốc sẽ làm bất cứ điều gì mà họ cho là cần để bắt mối kinh doanh; nhưng ngay sau khi nhận được tiền, mối quan hệ này liên tục xuống dốc, từng tí, từng tí một. Đi cùng với sự coi thường bạn hàng là chất lượng sản phẩm sẽ giảm dần, giảm dần và mất hẳn theo thời gian một cách lặng lẽ.
Các nhà sản xuất Trung Quốc thừa biết rằng từng chi tiết cũng như tổng thể cả sản phẩm của “Made in China” chỉ có thể sản xuất tại Trung Quốc, và như vậy – một khi các đối tác Phương Tây đã đặt hàng – thì sẽ không thể có sự lựa chọn nào khác là phải tiếp tục đặt hàng. Các nhà sản xuất Trung Quốc cứ việc thoải mái mà gặm nhấm chất lượng sản phẩm hàng hóa. Hậu quả là sản phẩm bị lỗi, bị hỏng hóc, không đạt chất lượng. Và cuối cùng “đã chót thì chét” các công ty Phương Tây tại Trung Quốc đành phải chịu đòn.
Bản chất đầu tiên của sự việc “Made in China” là bắt nguồn từ văn hóa của dân tộc Trung Hoa ngàn đời nay. Người Trung Hoa tin rằng họ sẽ không bị trừng phạt nếu họ lừa người khác. Họ tự ý thay đổi thông số kỹ thuật sản phẩm mà không cần hỏi ý kiến đối tác – bởi họ cho rằng “thà xin lỗi còn hơn xin phép”. Người Trung Hoa xem việc giảm chất lượng sản phẩm như là một yếu tố quyết định để thu lợi nhuận lớn hơn, chính vì vậy họ thường “lèm nhèm tối đa” khi thảo luận về vấn đề chất luợng.
Bản chất tiếp theo của vấn đề “Made in China” là ở thể chế chính trị. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tạo ra một vương quốc cho các loại mèo – “mèo trắng, mèo đen, miễn bắt được chuột”. Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ “thưởng” cho nhà sản xuất nếu họ mang ngoại tệ về cho đất nước. Có đôla mang về sẽ chỉ có vị gọt của củ “Cà Rốt” mà không bao giờ có vị đòn roi – cho dù các công ty Trung Quốc có tiến hành công việc kinh doanh của họ một cách phi đạo đức đến mức nào.
Người đời tâm niệm “gieo gió có ngày gặp bão”, quả báo đã xảy ra ngay tại xứ mèo – hàng trăm ngàn trẻ em Trung Quốc bị bệnh vì sữa melamine “Made in China”. Đúng là “chó dữ cắn chủ”, và cho dù chính phủ Trung Quốc có ra tay trừng trị hàng chục doanh nghiệp melamine, nhưng điều này xem ra chưa đủ hiệu lực với đàn chó dữ của họ.
Phải chăng xã hội Trung Quốc đã đến thời điểm mà các biện pháp cực đoan “Thiên An Môn” vẫn không thể ngăn cản được các doanh nghiệp của họ phạn tội ác? Phải chăng đã đến lúc các doanh nghiệp trên thế giới “không nên ngã để học khôn, mà nên học khôn trên cái ngu của kẻ khác?”
Paul Midler là tác giả của cuốn “Poorly Made in China”, một trong số 10 quyển sách về kinh tế bán chạy nhất trong năm 2009
// <
12 ngày trước khi diễn ra các buổi lễ xưng tụng về 60 năm quan hệ Việt Trung (18/1/1950 – 18/1/2010), ngày 6 tháng 1 vừa qua, ông Tôn Quốc Tường, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam đã có một buổi họp báo tại Hà Nội. Đa số nội dung xoay quanh vấn đề biển Đông và những quan điểm của Bắc Kinh liên quan đến mối quan hệ Việt Trung. Trong các phát biểu của Tôn Quốc Tường, quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề biển Đông đã cho thấy rõ “thái độ câu giờ” đối với Cộng sản Việt Nam và “hăm dọa” đối với dân tộc Việt Nam.
Về phía Cộng sản Việt Nam, Tôn Quốc Tường khuyên nên: tạm gác lại “tranh chấp” biển Đông, chờ điều kiện chín mùi rồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở hai nước. Họ Tôn cho rằng hai phía đã giải quyết xong vấn đề phân định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Việt; còn việc giải quyết vấn đề biên giới trên biển thì nên gác lại khi điều kiện thuận tiện.
Về phía dân tộc Việt Nam, Tôn Quốc Tường cho là: hợp tác sẽ phát triển (còn) đấu tranh sẽ thất bại. Tuy họ Tôn nói ngắn gọn, nhưng qua lời phát biểu này, rõ ràng là Tôn Quốc Tường đã nói lên quan điểm của Bắc Kinh và của cả lãnh đạo Hà Nội rằng họ sẽ trấn áp và tiêu diệt mọi nỗ lực đấu tranh chống lại sự bá quyền của Bắc Kinh trên biển Đông mà họ gọi là biển Nam Hải.
Điều chúng ta cần nói rõ ở đây là căn cứ trên Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào năm 1988, Trung Quốc không có một cơ sở pháp lý nào để có chủ quyền trên biển Đông. Những chủ trương mà Bắc Kinh đưa ra vùng chủ quyền hình lưỡi bò trên biển Đông chỉ là sự xâm chiếm trắng trợn, như họ đã từng xâm chiếm Hoàng sa (1974) và Trường sa (1988) của Việt Nam. Do đó cái gọi là “tranh chấp” biển Đông do phía Bắc Kinh đưa ra chỉ là để từng bước hợp thức hóa sự xâm chiếm của họ và đặt các quốc gia liên hệ ở vào thế đã rồi trong tiến trình gọi là “đàm phán song phương”. Đây là thủ đoạn mà Bắc Kinh đã từng dùng đối với Nhật Bản khi tranh chấp quần đảo Senkaku. Hay đối với Nam Dương, khi Bắc Kinh đổ tiền viện trợ để qua đó, thuyết phục Nam Dương đồng ý gác lại các tranh chấp, hầu cùng nhau khai thác vùng “tranh chấp” biển Đông.
Đến lượt Việt Nam, giọng điệu của Tôn Quốc Tường cho ta thấy rõ là Bắc Kinh đang dùng đối sách: vừa chiêu dụ, vừa răn đe để từng bước khống chế biển Đông.
Thứ nhất, chủ trương “tạm gác lại tranh chấp, chờ cơ hội chín mùi” là một đòn hiểm độc của Bắc Kinh. Trung Quốc đã thành công trong việc xâm chiếm 75% thềm lục địa của Việt Nam, khi biến nó trở thành nơi gọi là “tranh chấp”. Mặt khác, quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh hiện nay không phải là mối quan hệ bình đẳng. Trung Quốc vừa là quan thầy, vừa là chỗ dựa của Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Do đó, nếu có mang ra “đàm phán” thì Cộng sản Việt Nam sẽ phải chấp nhận những điều kiện của Bắc Kinh đưa ra như họ đã từng để mất 700 cây số vuông biên giới qua Hiệp ước về biên giới trên đất liền (1999) và mất hơn 10 ngàn cây số vuông biển qua Hiệp định phân ranh Vịnh Bắc Việt (2000). Chờ cho đến “cơ hội chín mùi” cũng là cách mà Hà Nội muốn nhờ Tôn Quốc Tường nói dùm với công luận Việt Nam để không phê phán những hành động yếu hèn của Cộng sản Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, chủ trương “hợp tác cùng nhau phát triển kinh tế xã hội giữa hai nước” là sự phủ dụ của quan Thái Thú đối với tiểu quốc chư hầu. Kinh tế Việt Nam hiện nay hoàn toàn bị chi phối bởi hàng hóa Trung Quốc, với độ nhập siêu từ Trung Quốc càng ngày càng nhiều – tăng từ 200 triệu Mỹ Kim năm 2001 lên đến 4,1 tỷ Mỹ Kim năm 2003, 7 tỷ Mỹ Kim năm 2007, 11 tỷ Mỹ Kim năm 2008. Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu hàng công nghiệp sang Việt Nam trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc những sảm phẩm thô, hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ. Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 4,2 tỷ Mỹ Kim gồm dầu thô, cao su, cà phê, than đá và lâm thủy sản; trong khi Việt Nam nhập từ Trung Quốc 15,2 tỷ Mỹ Kim gồm hàng công nghiệp và đồ gia dụng. Họ Tôn nói rằng, Trung Quốc sẽ cố gắng đẩy kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 25 tỷ Mỹ Kim trong năm nay, cho thấy là Việt Nam tiếp tục nhập siêu từ Trung Quốc từ 15 đến 16 tỷ Mỹ Kim. Điều này cho thấy là sự “hợp tác” mà họ Tôn đề xướng chỉ là đưa Việt Nam vào vòng khống chế của Bắc Kinh mà thôi.
Thứ ba, chủ trương “đấu tranh sẽ thất bại” là lời răn đe và cảnh cáo của họ Tôn đối với dân tộc Việt Nam. Khi phóng viên của tờ Tiền Phong hỏi về vụ Ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc đánh đập, cướp những dụng cụ đánh cá thì họ Tôn đã cho rằng đó là những tin tức sai sự thật. Họ Tôn nói rằng chính ông ta kiểm chứng thì hải quân Trung Quốc đã đối xử rất nhân đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân cập bến khi bị tai nạn ngoài khơi. Luận điệu tráo trở nói trên của họ Tôn chính là chủ trương hai mặt của Bắc Kinh: thần phục hay là bị tiêu diệt. Trong quan điểm của họ Tôn thì biển Đông đã nằm trong chủ quyền của Bắc Kinh, và vì thế người Việt Nam không nên “tranh đấu” để giành lại vì Trung Quốc sẽ sẵn sàng ra tay. Việc một viên đại sứ dám tuyên bố ngay tại Thủ đô của một nước đang có vấn đề với quốc gia họ bằng giọng điệu thách đố “đấu tranh sẽ thất bại” trong dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ, rõ ràng là họ Tôn và tập đoàn Bắc Kinh đã không những coi thường lãnh đạo Hà Nội mà còn khống chế và sai khiến tập đoàn này, đàn áp mọi cuộc tranh đấu bảo vệ Hoàng sa – Trường sa như đã từng đàn áp vụ 9 nhà dân chủ bị kết án 59 năm tù vì tội đã treo biểu ngữ chống Trung Quốc.
Qua những phát biểu của họ Tôn nói trên, lòng tự trọng và lòng yêu nước của người dân Việt Nam sẽ không thể nào im lặng trước sự thách đố của Bắc Kinh. Khi dùng đến nhóm từ “Đấu tranh sẽ thất bại” cho thấy là Bắc Kinh đã thấy rõ sức đề kháng mạnh mẽ và liên tục của người dân Việt Nam trong nhiều năm vừa qua. Đặc biệt là từ khi có những cuộc biểu tình của thanh niên sinh viên, văn nghệ sĩ vào cuối năm 2007 nhằm chống lại Bắc Kinh cho lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam để quản trị hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa. Ngoài ra, những cơ quan truyền thông của Cộng sản Việt Nam loan tải rộng rãi lời thách đố của họ Tôn sau cuộc họp báo, chứng tỏ là Hà Nội cũng đã đồng tình và muốn nhờ lời của họ Tôn để răn đe những ai đặt vấn đề xâm chiếm biển Đông của Bắc Kinh đối với lãnh đạo Hà Nội kể từ nay.
Đây là một sự nhục nhã của dân tộc Việt Nam có giòng máu bất khuất, oai hùng. Đây là dấu hiệu cho thấy là sau khi mất đất biên giới, mất vùng biển Vịnh Bắc Việt, việc mất biển Đông chỉ còn là thời gian nếu chúng ta không hành động kịp thời.
Lý Thái Hùng
Ngày 8/1/2010.
Đăng ngày: 15:05 07-01-2010
Phạm Viết Đào.
Trong cuộc tiếp xúc báo chí sáng ngày 6/1/2009, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã đưa ra một số thông điệp, bên cạnh nhưng ý kiến chung chung, mùi mẫn, chúng tôi rất chú ý tới 3 thông điệp quan trọng mà Ngài Đại sứ thiên triều muốn thông tin với nhân dân và chính quyền Việt Nam; 3 thông điệp ngoại giao đó là: “Tạm gác lại tranh chấp”; “ Nếu điều kiện chưa chín muồi”; “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại“…
Chúng tôi xin phép được lạm bàn, giải mã những ẩn ý đằng sau những thông điệp đậm màu sắc Trung Hoa này.
Thứ nhất: Khái niệm tạm gác tranh chấp; Trong hoạt động ngân hàng, tài chính có khái niệm “ khoanh nợ”, “khoanh vốn” để ứng phó với những điều bất trắc, rủi to bất ngờ gây thiệt hại cho các bên nhưng chưa có phương án cách thức giải quyết.
Trong hoạt động ngoại giao cũng có khái niệm này: khi một vấn đề nào đó mà 2 quốc gia chưa có cách gì giải quyết để hai bên khả dĩ có thể chấp nhận được, đành phải chọn phương thức “ gác lại”…
Trong quan hệ với Mỹ, hiện chúng ta cũng đang gác lại những chuyện về những hệ lụy của cuộc chiến kéo dài 30 năm mà Mỹ đã gây ra ở Việt Nam, để bắt tay xây những “công trình” ngoại giao mới vì lợi ích của hai nước.
Một sự kiện hay vấn đề ngoại giao nào đó khi đôi bên chấp nhận giải quyết sau phải với điều kiện: Vấn đề gác lại đó không có khả năng “ di căn “, lây lan làm “ viêm nhiễm ” những vùng miền khác của của “ cơ thể” thì mới có thể gác lại. Còn như gác lại mà vấn đề nó cứ bị rỉ ra, cứ ngấm ngầm gieo bệnh thì đây là một hình thức ủ bệnh tai hại để căn bệnh tái phát, bùng nổ nguy hiểm hơn. Như vậy việc gác lại này trở nên nguy hiểm vì nó đe dọa nhiễm bệnh toàn thân, cơ thể chóng chết hơn…
Vấn đề ngoại giao mà Đại sứ quán Trung Quốc đề xuất hai bên cần gác lại đó là vấn đề Trung Quốc đang lấn chiếm nhiều vùng lãnh hải của Việt Nam trên biển Đông trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa ? Gác lại khác gì thừa nhận và để yên cho Trung Quốc lấn chiếm biên giới lành hải của quốc gia mình? Đây là vấn đề khác hoàn toàn với việc người Mỹ gieo tại họa ở Việt Nam, bị đánh bại và cuốn cờ về nước. Vì vậy nên người Mỹ khó lòng tác động trở lại Việt Nam, gây nên những biến cố chính trị nếu cố tình muốn sử dụng những vấn đề đã gác lại đó của quá khứ.
Còn vấn đề tranh chấp biển Đông thì khác hoàn toàn với các vấn đề được gác lại trong quan hệ Việt-Mỹ về các vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh. Khi người ta nói gác lại một vấn đề nào đó bao giờ cùng kèm theo định chế bảo hiểm, canh chừng. Khi đưa ra định chế gác lại bao giờ cũng phải kèm theo cam kết: Hai bên không có hành động gì để làm cho vấn đề trở nên phức tạp; hai bên cam kết không sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực khi xảy ra các va chạm trên biển. Vế này thì ông Đại sứ lờ tịt, lại giấu biến.
Nếu cứ tin vào lời ông Đại sứ: Liệu ngư dân Quảng Ngãi thôi cất thuyền đi, khi nào hai bên đàm phán phân vùng biển xong rồi hãy ra khơi đánh cá. Trong khi đó thì tàu đánh cá Trung Quốc lại cứ ngang nhiên xâm phạm lãnh hải Việt Nam, hải quân Trung Quốc ra sức hiện đại hóa và thường xuyên tập trận, đe dọa…Ngư dân Việt Nam ra khơi chỗ nào cũng bị coi là xâm phạm lãnh hải Trung Quốc cả.
Ngay cả việc ngư dân Quãng Ngãi vào xin trú bão, bị hải quân Trung Quốc xua đuổi, ông Đại sứ cũng cứ chối bay, chối biến, nói đây không phải là cảng trú. Trong khi đó thì tàu nước khác vào được, chẳng nhẽ ngư dân Quảng Ngãi nhìn nhầm? Việc ngư dân Quảng Ngãi bị đánh, bị trấn mất điện thoại chẳng nhẽ họ vu oan cho phía Trung Quốc ?
Thành ra Ngài Đại sứ đề nghị cứ gác lại, trong khi Trung Quốc lại không gác, cứ lấn lướt hết việc này đến việc khác, nói thế mà nghe lọt tai được ư? Có mà lừa trẻ con ! Nói trắng ra, Đại sứ Tôn Quốc Tường đã khuyên Việt Nam nên gác vấn đề này lại để Trung Quốc ” độc chiếm” biển Đông một mình! Chà cao kiến hết chỗ nói…
Về thông điệp thứ hai: Nếu điều kiện chưa chín muồi; chữ chín muồi nghe rất ngon lành và mùi mẫn? Bao giờ thì chín muồi, đến khi Trung Quốc đóng xong các hạm đội, trang bị hoản hạo trang thiết bị chiến tranh trên biển rồi thì lúc đó hãy quay sang đàm phán, giải quyết phân vùng lãnh hải chăng? Câu nói của ông Đại sứ nghe có vẻ đầy trách nhiệm, thận trọng nhưng thực ra lại hết sức đáng ngờ vì nó ẩn chứa âm mưu ?
Việt Nam cứ kê cao gối mà ngủ trên bờ, Trung Quốc sẽ dọn sẵn xong thì mời Việt Nam đến dùng bữa chăng? Lúc đó Việt Nam họa chẳng chỉ còn đứng trên bờ mà khóc hời, khóc hỡi mà thôi…Thông điệp này khác gì bảo Việt Nam khoanh tay đứng nhìn để cho Trung Quốc một mình “múa tay trong bị” !
Có thể giải thích thông điệp này của Đại sứ Tông Quốc Tường như sau: Việt Nam hãy chịu khó kiên nhẫn chờ vấn đề biển Đông chín muồi rồi hãy mang “bát đĩa” ra; còn hiệnTrung Quốc đang đói nên cứ tạm gác lại để Trung Quốc ” xơi tái ” trước vậy ?!
- Về thông điệp thứ 3: “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại “…
Về phương diện ngôn ngữ, chữ nghĩa thì động từ đấu tranh là hành động phản kháng của cá thể, thế lực nhỏ, yếu hơn phản kháng đối với thế lực lớn hơn chứ không bao giờ có chiều ngược lại.
Chỉ có thể nhân dân đấu tranh với chính quyền, nước nhỏ đấu tranh với nước lớn để bớt bị bắt nạt; bởi nếu chủ động phát động chiến tranh vì yếu hơn sẽ bị bất lợi nhiều hơn. Chả ai nói chính quyền đấu tranh với nhân dân, nước lớn đấu tranh với nước nhỏ và yếu hơn mình cả…
Đại sứ Tôn Quốc Tường tuyên bố như vậy chỉ có thể nhằm hàm ý hăm dọa Việt Nam; bởi chỉ có Việt Nam mới đấu tranh với Trung Quốc chứ Trung Quốc làm gì phải đấu tranh với Việt Nam? Nếu Trung Quốc quả thật phải sử dụng phương thức đấu tranh thay cho chiến tranh thì hóa ra trong quan hệ với Việt Nam , do Trung Quốc yếu thế, đang bị Việt Nam ăn hiếp, bắt nạt nên muốn tồn tại phải chọn phương thức đấu tranh ư?
Đại sứ Trung Quốc chỉ có thể nói thế này thì mới rành rẽ, mới lôgich: trong quan hệ với Việt Nam nếu Trung Quốc phát động chiến tranh xâm lược, ăn cướp thì Trung Quốc chẳng được lợi lộc gì mà chỉ có thể chuốc lấy thất bại; Ngược lại Việt Nam không cần lo nghĩ chuyện đấu tranh với Trung Quốc làm gì cho tổn thọ; Trung Quốc quang minh chính đại lắm, quân tử lắm…Sao ông Tôn Quốc Tường không dám ngửa bài như vậy ra…
Còn như Ngài nói Việt Nam mà đấu tranh với Trung Quốc sẽ thất bại là Ngài đã nhầm rồi đấy. Việt Nam nếu không đấu tranh được thì sẵn sàng chiến đấu; cha ông chúng tôi đã từng làm như vậy. Gần đây, đối với người Pháp, người Mỹ, người Nhật, người Việt Nam đều chọn phương thức đó: Không đấu tranh được thì chiến đấu, đời cha không giành và bảo vệ được đất nước thì đời con, đời cháu; sẵn sàng đốt cả dãy Trường Sơn để bảo vệ độc lập cũng sẽ làm…
Là một công dân, tôi đề nghị Bộ Ngoại giao có Công hàm chính thức gửi Chính phủ Trung Quốc đề nghị triệu hồi ông Tôn Quốc Tường về nước, vì ông Đại sứ Tôn Quốc Tường này đã dám ngang nhiên và công khai đe đe dọa Việt Nam, đấy là việc làm trái với thông lệ của các quan chức ngoại giao, là láo ?!
P.V.Đ
Khương Du, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc có vẻ hung hăng, khí thế; còn chị Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn Bộ Ngoại giao ta lại có vẻ ỉu xìu xìu ???
Ngài Đại sứ thì đang ở bộ dạng, tư thế: ” Sói chuẩn bị vồ mồi “…
Posted by: basaigon on: 22/12/2009
|
Trân trọng gửi đến đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng đội cựu kháng chiến và các bạn trẻ
I
Vì Nhân Dân quên mình Vì Nhân Dân hy sinh Lời nguyện ấy trọn tâm thành ta hát Tận tụy một đời mấy cuộc trường chinh Trải mấy cuộc trường chinh với bao hy sinh không kể xiết để có được một đất nước hòa bình độc lập thống nhất, nhưng trên đất nước độc lập thống nhất này, sau 34 năm hòa bình xây dựng, nhân dân ta đang sống trong tình cảnh thế nào? Câu trả lời của tôi là: -Bị cướp đất -Bị bịt miệng Tất cả mọi người Việt Nam hôm nay khi nằm xuống thì mảnh đất chôn mình cũng không phải của mình, cả nơi yên nghỉ của cha mẹ tổ tiên mình cũng thế. Lên tiếng khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam thì bị quật cổ xuống đường, bị bắt giam, bị cách chức, bị nghỉ việc, bị rút thẻ hành nghề. Các bức thư của vị đại tướng đại công thần Võ Nguyên Giáp đóng góp ý kiến về việc quốc gia đại sự thì không được đăng, nói gì đến đơn khiếu kiện của muôn vạn người dân oan ức, đến tiếng nói phản biện của tổ chức nghiên cứu tư nhân đầu tiên lập ra bởi các trí thức gạo cội chí cốt của Đảng nhờ chủ trương đổi mới – Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS), trong khi tổng biên tập báo điện tử Đảng CSVN tiếp tay nối lời cho giặc bành trướng thì ngang nhiên tại vị. Thậm chí quyền con người của ngay cả người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh, cái quyền tự do cuối cùng nhỏ nhoi bình thường đơn sơ nhất là khi qua đời thân xác được đem đốt đi, quyền ấy cũng bị gạt bỏ bằng một ứng xử rất xa lạ với cách mạng, thậm chí có thể ẩn chứa một mánh khóe chính trị thâm hiểm: nhân danh tình cảm nhân dân dùng một phương thức phi tự nhiên để biến người lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thành một hoàng đế Ai-cập cổ đại nhưng vô cùng khốn khổ vì ngày ngày bị phơi ra trước bao con mắt hoặc sùng kính thương cảm hoặc tò mò vô cảm. Tôi tự hỏi: một đảng gọi là đảng khoa học và cách mạng, là tinh hoa của lương tâm và trí tuệ, một đảng đặt quyền lợi của Tổ Quốc, của Nhân dân lên trên hết, một đảng vì Nhân dân quên mình, một lực lượng vũ trang vì Nhân dân quên mình, một lực lượng trí thức văn nghệ sĩ vì Nhân dân quên mình, có chấp nhận được tình trạng hết sức ngược đời nêu trên không? Câu trả lời của tôi là: -Không, dứt khoát không! * Ngay tại hành lang Quốc Hội kỳ họp thứ 6 khóa 12, tháng 11.2009, phó đoàn đại biểu quốc hội TP Cần Thơ Huỳnh Văn Tiếp nói: phải kiểm tra xem với động cơ gì mà 110 người ký đơn xin ở tù thay cho bà Trần Ngọc Sương, giám đốc nông trường Sông Hậu (bị kết án 8 năm tù về tội “lập quỹ trái phép”)? Tất yếu phải đặt ngay các vấn đề: - Với động cơ gì mà đại biểu Huỳnh Văn Tiếp, trước sự kiện (chưa từng có trong lịch sử hoạt động tư pháp của chế độ ta) cả trăm người dân đòi ở tù thay cho bị cáo – một anh hùng thời đổi mới vốn là người lãnh đạo họ; ông Tiếp không chịu đến ngay với dân để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng dân mà lại lập tức lớn tiếng đòi kiểm tra động cơ của họ? Vậy ông là đại biểu của ai, nói tiếng nói của ai, trên lập trường lợi ích nào,với động cơ gì? - Với động cơ gì mà bí thư Nguyễn Tấn Quyên, phó bí thư Nguyễn Thanh Vận TP Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố tội này tội nọ cho anh hùng Trần Ngọc Sương, bất chấp qui định của Đảng cấm ngặt cấp ủy Đảng can thiệp cụ thể vào công tác điều tra? - Với động cơ gì mà thành ủy Cần Thơ dự tính qui hoạch lập khu đô thị mới ở một vùng đất, trong đó có đất của nông trường Sông Hậu và nông trường Cờ Đỏ, là vùng tối ưu để làm nông nghiệp, hơn nữa lại là thành quả dày công khai phá bao năm trường của hàng vạn nông dân dưới sự lãnh đạo can đảm và năng động của cha con hai người anh hùng đã được tôn vinh? - Với động cơ gì mà trong một thời gian rất ngắn hàng loạt các cơ quan, cán bộ cao cấp, đại biểu quốc hội, lão thành cách mạng, luật gia, nhà báo, nhà văn đã bày tỏ phản ứng mạnh mẽ, cùng với phản ứng sôi sục của công luận rộng rãi, trước bản án “vô lý” – như phó chủ tịch liên đoàn luật sư VN nhận xét – đối với anh hùng Trần Ngọc Sương? - Với động cơ gì mà trước kia bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc, rồi các cán bộ chủ chốt của thành ủy Hải Phòng dám xé rào giáo điều thực hiện khoán chui tạo cơ sở thực tiễn cho sự ra đời của chủ trương khoán 10 giải phóng sức sản xuất cho mấy chục triệu nông dân Việt Nam, đưa đất nước thoát cảnh năm nào cũng phải đi xin viện trợ lương thực bước lên vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo? Với động cơ gì mà bí thư thành ủy TP HCM Võ Văn Kiệt, bất chấp hiểm nguy đến có thể mất chức mất Đảng dám xé rào giáo điều thực hiện hàng loạt biện pháp đổi mới ở địa phương tạo tiền đề thực tiễn cho đường lối đổi mới trên qui mô toàn quốc? Với động cơ gì mà cha con hai người anh hùng Trần Ngọc Hoằng Trần Ngọc Sương hiến dâng cả đời mình gây dựng một vùng đất từ sình phèn hoang vu thành đất sống ổn định trù phú cho hàng vạn nông dân trong khuôn khổ bức bối của một cơ chế đầy rẫy những thắt buộc nguy hiểm đối với tất cả những ai tích cực chủ động năng động làm việc vì dân vì nước? Vậy đó, động cơ và động cơ. Động cơ vì Nhân dân quên mình của những Kim Ngọc, những cán bộ chủ chốt của thành ủy Hải Phòng, những Võ Văn Kiệt, Trần Ngọc Hoằng, Trần Ngọc Sương thì hiển lộ ngời ngời với những thành quả mà họ đã tạo nên và được chính thức tôn vinh. Còn động cơ của các cán bộ chủ chốt trong thành ủy Cần Thơ? Các cán bộ ấy chỉ hối hả đòi xem xét động cơ của dân chứ không bao giờ dám tự nói ra cái động cơ sâu xa giấu kỹ trong quả tim chẳng ai biết đen đỏ thế nào của họ.Thế thì cơ quan lãnh đạo tối cao phải cùng với công luận tiến hành xem xét cái thứ động cơ thầm kín này. Tôi có mấy ý kiến xin nêu ra để mong được trao đổi góp phần vào việc xem xét động cơ của họ. Việc xem xét cần phải đặt trong tình trạng Đảng cầm quyền hiện nay có mấy đặc điểm sau: - Vai trò của các cấp ủy Đảng từ cơ sở cho tới Bộ chính trị trong thực hiện nhiệm vụ chống đại quốc nạn nội xâm rất yếu kém (đồng thời trong nhiệm vụ chống đại quốc họa bành trướng cũng rất yếu, xin đọc bài “Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc” của cùng tác giả trên mạng internet tháng 01.2009). - Công tác cán bộ nhiều năm ròng, và đến nay vẫn thế, nằm trong tay một người hoặc một nhóm người tiến hành trong vòng bí mật sắp đặt ghế theo bè phái rồi sắp đặt những cuộc đại hội hình thức, bầu cử hình thức để hợp thức hóa ghế, nạn “chạy” chức diễn ra ở hầu hết mọi cấp mọi ngành mọi địa phương, công tác chỉnh đốn Đảng trở thành chỉnh đốn ngược, càng chỉnh đốn giặc nội xâm vào cấp ủy ngày càng đông đã chiếm chỗ ít nhất 51% trong các cấp ủy kể cả Bộ chính trị. Chắc chắn không thể không có bọn tay sai bành trướng nằm trong cấp ủy mà công tác bảo vệ chính trị nội bộ vô tình hoặc cố ý chưa phát hiện và xử lý. - Từ chỗ là một bộ phận thoái hóa biến chất bởi một thứ cá nhân chủ nghĩa cực kỳ ngoan cố, giặc nội xâm kéo bè kết cánh trong Đảng dùng con dấu đỏ làm “vũ khí sắc bén” núp sau thẻ đỏ tranh thủ từng ngày từng tháng từng quý từng năm từng nhiệm kỳ đua nhau ăn cắp ăn cướp tích lũy siêu tốc thành một thế lực kinh tế chính trị thao túng nhiều hoạt động của Nhà nước trong đó có hoạt động tư pháp. Sự thao túng đó diễn ra có hệ thống kéo dài đã thành qui trình tinh vi và xảo quyệt từ khâu hoạch định các chủ trương, các dự luật, các dự án v.v… đến khâu thực hiện, bằng mọi thủ đoạn kể cả lách nghị quyết, lách luật, thậm chí dẫm đạp lên nghị quyết và luật pháp. Đại quốc nạn tham nhũng – nội xâm không chỉ là vấn đề đạo đức nữa mà đã trở thành đại quốc nạn kinh tế – chính trị, một mối đại họa đe dọa sự sống còn của Đảng, như nhiều lão thành cách mạng đã cảnh báo từ lâu. Nhà cách mạng lão thành Trần Độ lúc sinh thời đã thẳng thắn vạch rõ: Đảng không những mất sức chiến đấu mà mất cả sức sống. Tôi muốn nối thêm một ý này: khi đại đa số đảng viên và lực lượng vũ trang kiên định giữ trọn phẩm chất vì nhân dân quên mình thì ngay trong lòng các cấp ủy đảng lại bạo phát một thứ “sức sống” hoang dã vận hành bởi một thứ động cơ đen tối bên ngoài dán nhãn hiệu “đầy tớ nhân dân” bên trong là năng lượng hỗn mang của lòng tham vô đáy say cuồng và mê muội sôi sục suốt ngày đêm. Dư luận nêu nghi vấn: có vấn đề động cơ đất đai khiến một số cán bộ chủ chốt của thành ủy Cần Thơ phải liều lĩnh dẫm đạp lên nguyên tắc đảng ra mặt chỉ đạo cụ thể can thiệp vào công tác điều tra (và không loại trừ cả khâu xét xử), để quyết thực hiện bằng được một bản án thật nặng cho bà Trần Ngọc Sương khi người nữ anh hùng này, vì lo cho số phận hàng vạn nông dân, đã không giao lại đất nông trưòng, gây cản trở cho cái dự án đô thị mới mà người ta đang nhăm nhe hoạch định (xin đọc bài của nhà báo Huy Đức dẫn lời được ghi âm của ông Phạm Thanh Vận nói với bà Trần Ngọc Sương ngày 25-10-2007: “Chị nghỉ nhưng làm sao cho hạ cánh an toàn trong danh dự nếu giao lại đất Nông trường”). Tôi cho rằng, đằng sau động cơ đất đai đã hiển lộ khá rõ, còn là một mưu toan hết sức hiểm độc về chính trị tư tưởng và văn hóa của thế lực nội xâm (có thể bản thân các cán bộ chủ chốt của thành ủy Cần Thơ cũng chưa tự ý thức được điều này); nó ngang nhiên và lì lợm phát ra cho toàn xã hội, nhất là lớp trẻ, một thông điệp đen: đừng dại khờ lựa chọn lẽ sống vì dân vì nước như cha con bà Sương, như đa số đảng viên và cựu chiến binh, hãy cứ sống theo cách vừa hô thật to Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm, chủ nghĩa Mác Lê-nin vô địch muôn năm, kinh tế thị trường (nhất là thị trường ghế) định hướng xã hội chủ nghĩa muôn năm, vừa tranh thủ ra sức kiếm ghế mua ghế bám ghế leo ghế ngày càng cao theo phương thức dùng chuyên chính vô sản tích lũy tư bản để đạt tới “thiên đường cộng sản” của một giai cấp đại tài phiệt đỏ nói như rồng leo làm như mèo mửa và hưởng theo nhu cầu trên cái “gốc” là nhân dân lầm than và phẫn uất nhưng bị bưng bít thông tin nên vẫn cứ thều thào “ơn Đảng”. Vụ án anh hùng Trần Ngọc Sương diễn ra trong một môi trường pháp lý mà cán cân công lý nằm trong tay những cấp ủy đã bị giặc nội xâm thao túng, từng đẻ ra bao phiên tòa mà chánh án tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Hiện lúc đương nhiệm đã gọi huỵch toẹt “xử thế nào cũng được”. Để sáng tỏ được công lý trong vụ án này cũng như vô số vụ án khác tương tự, thì trước hết cần phải khẳng định dứt khoát cái công lý thiêng liêng bao trùm ngàn đời sau đây: chủ sở hữu đích thực của đất nông trường Sông Hậu chính là những người nông dân cùng cha con bà Sương đã dốc tâm dồn trí bền lực tiếp nối các lớp tiền bối của mình bao đời bao năm khai phá bồi đắp nên chứ không phải là một thứ “sở hữu toàn dân” mông lung. Một sự thật sờ sờ ai cũng thấy: cái gọi là “sở hữu toàn dân” mông lung đã mau chóng biến thành túi vàng két bạc của vô số những người có chức quyền nhân danh cách mạng để làm vua quan cách mạng, khiến đất nước rối bời lên không thể tả về chuyện đất đai và còn rối bời chưa biết đến bao giờ. Hãy hình dung, nếu ngay từ đầu ta không thành lập nông trường quốc doanh mà để những người nông dân khai hoang đến đâu được cấp quyền sở hữu đất đến đấy, ai có chứng từ sở hữu trong quá khứ được tiếp tục thừa nhận (quyền sở hữu tư nhân vĩnh viễn chứ không phải quyền sử dụng có thời hạn), rồi họ góp thóc góp tiền trả công xứng đáng cho người đã lãnh đạo tổ chức họ gây dựng cơ nghiệp là ông Trần Ngọc Hoằng (tiếp đến là bà Trần ngọc Sương), rồi khi nhu cầu phát triển sản xuất thúc đẩy họ hợp tác với nhau, tất yếu sự hợp tác sẽ diễn ra một cách tự nguyện và nhất định họ chỉ bầu người mà họ thấy là gương mẫu nhất, đáng tin cậy nhất đứng ra lãnh đạo điều hành cái hợp tác xã đúng nghĩa ấy, rồi cũng tất yếu hợp tác xã sẽ phát triển thành một công ty cổ phần nông công thương tín do nông dân làm chủ từ sản xuất chế biến đến phân phối trong và ngoài nước các sản phẩm do họ làm ra, thì tình hình sẽ thế nào? Chắc chắn mọi người từ nông dân đến cha con bà Trần Ngọc Sương sẽ giầu có hơn rất nhiều, số thuế họ đóng cho nhà nước cũng lớn hơn rất nhiều, sẽ không có chuyện mắc tội “lập quỹ trái phép” hay “tham ô” (tiền của chính mình). Như vậy, vụ án cần phải xem xét khởi tố trước hết là vụ quốc hữu hóa tư liệu sản xuất. Tôi tha thiết đề nghị các nhà lãnh đạo, nếu thực lòng đặt Tổ Quốc lên trên hết, quyền dân lên trên hết, thực lòng vì Nhân dân quên mình, hãy lập tức mời ngay các lão thành cách mạng, các ủy viên Bộ chính trị và Trung ương các khóa, các đại biểu quốc hội đương nhiệm và các khóa trước cùng các nhà khoa học thực hiện một cuộc tổng kết thật cụ thể, thật chi tiết xem công cuộc quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp tư nhân trước đây đã gây tổn thất về vật chất và tinh thần cho đất nước cho nhân dân như thế nào. Sau 1975, công cuộc quốc hữu hóa được thực hiện do đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc, xác lập tại đại hội Đảng lần thứ 4, tháng 12.1976. Đảng Lao động Việt Nam đổi thành Đảng Cộng Sản Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mất 2 chữ “dân chủ”, đồng thời cũng mất luôn một thể chế dân chủ đa nguyên – thành quả của Cách mạng Tháng 8.1945 – được thiết lập năm 1946 qua cuộc phổ thông đầu phiếu đầu tiên trong lịch sử dân tộc, để thay bằng 4 chữ “xã hội chủ nghĩa” mà phần lớn những đảng viên tham dự đại hội 4 cùng lắm cũng chỉ hiểu đó là lý tưởng xa vời về một xã hội sung túc, tốt đẹp, không có áp bức bất công và nhất thiết sẽ có “dân chủ gấp triệu lần” (lời Lê-nin) các chế độ trước. Những quyết sách lớn quan hệ đến quyền sống của từng người dân, đến vận mệnh của đất nước và của Đảng như vậy lại được chuẩn thuận bởi một đại hội mà đa số đại biểu dự họp với tâm lý và không khí một cuộc liên hoan mừng chiến thắng hơn là một cuộc bàn thảo cặn kẽ để hoạch định đường lối chiến lược, như thủ tướng Võ Văn Kiệt đã bày tỏ tâm sự lúc cuối đời. 10 năm sau, đại hội Đảng lần thứ 6 họp tháng 12.1986 đã chỉ ra sai lầm chiến lược của đại hội 4 và quyết định đường lối đổi mới. Tuy nhiên, do những hạn chế lịch sử của tình hình chính trị nội bộ, nên thay vì phải thẳng thắn nêu rõ “sai lầm về đường lối chiến lược” lại chỉ dừng ở mức “sai lầm về chỉ đạo chiến lược”. Một cán bộ cao cấp, nguyên là bí thư đặc khu ủy Quảng Đà trong chiến tranh được tổng bí thư Trường Chinh giao nhiệm vụ tham gia nhóm nòng cốt chuẩn bị dự thảo văn kiện đại hội 6 kể với tôi, ngay sau đại hội mấy hôm: dự thảo lúc đầu ghi rõ “sai lầm về đường lối chiến lược”, nhưng đã diễn ra một cuộc giằng co giữa khuynh hướng nhận sai lầm triệt để với khuynh hướng chỉ nhận sai lầm nửa vời trong nội bộ còn khá mạnh, rốt cuộc đành phải tạm nhân nhượng thay 2 chữ “đường lối” bằng 2 chữ “chỉ đạo”). Tính nửa vời đó đã để di lụy tai hại ghê gớm cho đến nay. Do chủ nghĩa cá nhân và bệnh bè phái độc đoán phản dân chủ rất nặng ở một số cán bộ chủ chốt cấp tối cao, các đại hội kế tiếp đều né tránh việc xem xét đánh giá tình hình 10 năm từ 1976 đến 1986. Các chủ trương lớn có tính nền móng của Đảng như “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, lấy dân làm gốc, công khai dân biết dân bàn…” dần dần bị vô hiệu hóa bởi một thế lực sợ sự thật, sợ dân có quyền, lấy việc bám ghế đè dân, bưng bít và ngăn chặn cắt xén thông tin để tồn tại. Bây giờ thì ai cũng thấy đường lối Đại hội 4 là một đường lối phiêu lưu duy ý chí đưa đất nước và Đảng đến bên bờ vực thẳm.Nhưng không phải ai cũng thấy đây là cái duy ý chí, phiêu lưu và kiêu ngạo sau đại thắng của một vài cá nhân theo chủ nghĩa cực quyền áp đặt cho số đông để tình cảm cách mạng thay cho lý luận khoa học, để niềm tin chân thật hồn nhiên vào cấp trên thay cho bản lĩnh tư duy độc lập của người chiến sĩ cách mạng luôn lấy lợi ích của dân của nước làm tiêu chuẩn để suy nghĩ và hành động. Và không phải ai cũng thấy, có một sự thật bấy lâu luôn bị che giấu: ở cấp lãnh đạo tối cao, từ rất sớm trước khi chuẩn bị đại hội 4 đã có những ý kiến phản biện rất sáng suốt. Ví dụ: - - Cuộc tấn công Tết Mậu Thân – 1968 khi nổ ra được gọi chính thức là Tổng công kích – Tổng nổi dậy (Tổng khởi nghĩa), ở chiến trường gọi tắt là 2T, nhưng trong quá trình chuẩn bị, khi thảo luận ở cấp tối cao có ý kiến đề nghị chỉ nên xác định là cuộc tập kích chiến lược vì không thể tiến hành tổng khởi nghĩa đưa quần chúng tay không ra trước họng súng trong điều kiện chiến tranh với một đối phương có lực lượng quân sự cực mạnh. Ý kiến này không được lắng nghe và tiếp thu. Thực tế đã chứng minh ý kiến này đúng. Cuộc tổng nổi dậy đã không nổ ra được. Trong năm 1968 ta tiến hành 3 đợt tấn công vào đô thị; đợt Tết, đợt tháng 5 và đợt tháng 8, bị tổn thất rất lớn, khó khăn chồng chất tưởng chừng không thể vượt qua kéo dài suốt các năm 1968, 1969, 1970, nửa đầu 1971, nhiều nơi phải đưa lính chủ lực miền Bắc xuống làm du kích (anh lính Phạm Trung Đỉnh người Hải Phòng thuộc số này, may sống sót trở về, nay là nhà văn Trung Trung Đỉnh, giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà văn). - Chiến dịch xuân hè 1972, sau khi ta giải phóng thị xã Quảng Trị, ý kiến phản biện từ giới quân sự yêu cầu không nên tổ chức phòng ngự dài ngày giữa địa hình đồng bằng trống trải dưới hỏa lực cực mạnh đủ các cỡ kể cả B52 của đối phương, nhưng ý kiến sáng suốt này đã không được lắng nghe và tiếp thu, hậu quả là mỗi đêm chúng ta hy sinh một đại đội, sau hơn 60 ngày đêm phải rút lui. - Trước 30.4.1975, trong cán bộ cao cấp của Đảng đã có ý kiến đề xuất cần giữ quan hệ bình thường với chính quyền Mỹ khi ta tiến quân vào giải phóng Sài Gòn, việc thống nhất đất nước cần tiến hành từng bước để miền Nam tiếp tục duy trì các quan hệ chính trị kinh tế xã hội như trước với các nước phương Tây thì sẽ đạt được lợi ích tối ưu cho cách mạng, nhưng ý kiến sáng suốt này đã không được chấp nhận. Sau 1975, ủy viên Bộ Chính trị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nỗ lực xúc tiến công tác đối ngoại theo hướng tăng cường quan hệ với phương Tây và tìm cách tiến tới sớm đạt được quan hệ bình thường giữa ta và Mỹ, nhưng rồi chính vì lẽ đó mà bộ trưởng bị gạt ra khỏi Bộ Chính trị do sức ép của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Trung Quốc. - Tháng 5.1975, tại Đà Nẵng, tôi được học nghị quyết 24 của Bộ Chính trị trong đó có chủ trương giữ nguyên kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế tư nhân ở miền Nam – một chủ trương rất sáng suốt. Tất cả các đảng viên đều rất phấn khởi với chủ trương này. Nhân dân nghe tin càng rất phấn khởi và yên tâm. Nhưng nghị quyết chưa kịp triển khai thực hiện, một thời gian ngắn sau đã bị phủ định bởi những nghị quyết mới tiếp tục duy trì đường lối giáo điều đưa miền Nam vào chế độ kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp như miền Bắc. - Đối với dự thảo đường lối đại hội 4, nhiều ý kiến trong cán bộ lãnh đạo cấp cao đã sớm chỉ ra tính phiêu lưu duy ý chí, hơn nữa lại trái với lời dặn trong di chúc của Hồ chủ tịch: sau chiến tranh phải có giai đoạn phục hồi kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Các ý kiến phản biện ở tầm chiến lược vừa nêu đã không được tôn trọng lắng nghe, không được thảo luận dân chủ rộng rãi, ngược lại tác giả của những ý kiến sáng suốt đó lại bị trù dập bị vô hiệu hóa bằng nhiều cách. Vì không có dân chủ ngay cả ở hàng ngũ lãnh đạo tối cao, nên Đảng đã mắc những sai lầm lớn về chiến lược và từ sai lầm dẫn đến những tội lỗi lớn không những với dân với nước mà ngay cả đối với nhau trong lớp chiến sĩ cách mạng khởi nghiệp. Khi trong nội bộ cấp cao xảy ra tình trạng dùng bạo quyền thay cho lẽ phải như thế là lập tức kẻ thù bên ngoài lợi dụng. Xin nhớ lại: tháng 5 .1984, kỷ niệm 30 năm ngày chiến thắng Điện Biên, báo đài hầu như không nhắc gì đến đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ba tháng sau, tháng 7.1984, giặc bành trướng thực hiện ngay chiến dịch tấn chiếm tuyến điểm cao núi Đất (Hà Giang ), ta tổn thất rất lớn, một số điểm cao trọng yếu dọc biên giới rơi vào tay địch. Thông tin về mất mát đau thương lớn này cho đến nay vẫn chưa được chính thức công bố, gần đây mọi người mới được biết qua blog của nhà văn Phạm Viết Đào, người có em trai ruột hy sinh trong trận đánh bảo vệ Tổ Quốc âm thầm ấy. Tại sao lại chủ trương bưng bít thông tin về một sự kiện hệ trọng như vậy? Đây vẫn là một câu hỏi lớn mà nhân dân và lực lượng vũ trang đặt ra cho những người lãnh đạo. Cũng như nhân dân và lực lượng vũ trang cần được biết tại sao lại chủ trương không cho tái bản và không cho tiếp tục thực hiện các công trình nghiên cứu sáng tác về cuộc chiến chống bọn diệt chủng Pôn – pốt, chống giặc bành trướng trên biên giới phía bắc và trên biển Đông, tại sao lại không tổ chức tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trên các tuyến đầu bảo vệ Tổ Quốc ấy? Những người lãnh đạo không thể lẩn tránh mãi việc trả lời nhân dân và lực lượng vũ trang về các việc hệ trọng này. Rõ ràng đây là bằng chứng về sự phản bội đối với các chủ trương đúng đắn có tính nền móng của đại hội 6 “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, lấy dân làm gốc, công khai dân biết dân bàn…”, phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” (Hồ Chí Minh toàn tập NXB CTQG, H, , t8, tr216 ) Tóm lại: Rõ ràng Đảng không có dân chủ. Đất nước không có dân chủ. Mục tiêu dân chủ của cuộc cách mạng chưa đạt được. Cách mạng dân tộc dân chủ chưa hoàn thành. Không những thế, dưới danh nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã diễn ra một quá trình hủy hoại toàn diện nội lực dân tộc, hủy hoại các thành quả dân chủ mà nhân dân đã đạt được từ đầu năm 1946 và bản thân Đảng mất dần tư cách yêu nước vì dân.Nhân dân đã tự nguyện tạm gác một số quyền tự do cơ bản mà mình từng được hưởng một thời gian ngắn sau Cách mạng tháng Tám 1945 để dồn sức cho 2 cuộc kháng chiến, nhưng sau khi đất nước đã có hòa bình độc lập thống nhất, sự tự nguyện tạm gác các quyền ấy đã bị khéo léo trấn lột dưới dạng sắp đặt một cuộc hiến dâng tự nguyện. Rõ ràng nhiệm vụ bao trùm của toàn Đảng toàn dân hiện nay phải là tạm gác mục tiêu xã hội chủ nghĩa để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Đây là mệnh lệnh của cuộc sống, cô đúc trong tám chữ TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT, Là mệnh lệnh của lịch sử, của hồn thiêng sông núi tổ tiên ngàn đời, của hồn thiêng lớp lớp anh hùng liệt sĩ chống ngoại xâm chống bành trướng vang lên qua giai điệu hào hùng của nhạc sĩ thiên tài Văn Cao từ Cách mạng Tháng Tám: LẬP QUYỀN DÂN, TIẾN LÊN, VIỆT NAM ! II Hiện nay, trước hết cần làm mấy việc cơ bản nhất và cũng cấp bách nhất: 1. Trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân (nhấn mạnh cho thật rõ: quyền tư hữu vĩnh viễn chứ không phải quyền sử dụng có thời hạn ) tiến tới phải chính thức Hiến định quyền tư hữu tài sản của công dân (như Hiến pháp năm 1946), nhưng trước hết hãy bắt đầu bằng thực hiện người cày có ruộng. 2. Trả lại quyền tự do báo chí tự do xuất bản cho công dân, sửa ngay luật báo chí và luật xuất bản, bổ sung điều khoản công dân được quyền ra báo tư nhân, lập nhà xuất bản tư nhân, lập tổ chức nghiên cứu khoa học tư nhân (gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội). 3. Trả lại quyền tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn cho công dân. 4. Trả lại quyền tự do ứng cử và bầu cử (gồm cả quyền tự do không đi bầu) cho công dân và đảng viên. Ai làm những việc trên? Các cấp ủy Đảng với 51% bị giặc nội xâm chiếm chỗ thì đương nhiên không chịu làm (tuy cũng có số ít cấp ủy viên yêu nước vì dân muốn làm nhưng lực bất tòng tâm), không những thế còn tìm mọi cách chống lại. Như vậy người làm không ai khác là toàn Đảng toàn dân. Thực chất việc làm này là một cuộc đòi nợ và trả nợ. Với tư cách lãnh đạo, Đảng phải trả món nợ quyền dân. Với tư cách là nạn nhân của chế độ cực quyền do chính mình dựng nên, Đảng là người đòi món nợ quyền dân, cùng với nhân dân đòi, tổ chức và lãnh đạo nhân dân đòi. Toàn Đảng phải bắt đầu từ từng đảng viên. Toàn dân phải bắt đầu từ từng người dân. Từng đảng viên đòi.Từng người dân đòi. Đòi hàng ngày. Đòi ngày này sang ngày khác. Tập hợp nhau lại mà đòi. Tập hợp ở đâu? Trước hết ở ngay trong các tổ chức hiện hành. Phải nhớ rằng tổ chức Đảng và các hội đoàn là thành quả cách mạng xây đắp bằng bao nhiêu xương máu, không thể để bọn vua quan cách mạng biến thành bệ đỡ cho ngai ghế của chúng. Đảng viên phải làm chủ Đảng. Công dân phải làm chủ các hội đoàn mà mình đang tham gia (song song với việc đòi có luật tự do lập hội và nhen nhóm, phát triển các phương thức tổ chức vô cùng phong phú của sinh hoạt xã hội dân sự). Còn nguyên vẹn đó con người Việt Nam bước ra từ Cách Mạng Tháng Tám “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi), những con người đã chớm biết thế nào là cuộc đời tự do “có hội nghị, phê bình, chất vấn” (thơ Hồng Nguyên). Phải làm bừng dậy hồn dân tộc, nhân dân, cái hồn xã hội dân sự trong sinh hoạt Đảng và các hội đoàn mà giặc nội xâm đang thao túng, phải biến các hoạt động mà chúng chỉ muốn thực hiện bằng bàn tay sắp đặt theo kiểu trình diễn hình thức với vai diễn là đảng viên và nhân dân làm bình phong làm con rối phục vụ lợi ích đen tối của chúng, thành hoạt động có thực chất phục vụ lợi ích của đất nước và bản thân mình. Muốn đẩy lùi và loại trừ dần sự thao túng của giặc nội xâm, Đảng phải tự đổi mới bản thân Đảng, đổi mới về tư tưởng, đổi mới về tổ chức (nói đổi mới nhưng thực chất là kiên quyết sửa chữa tận gốc những cái sai, thực hiện triệt để những điều đúng). Về tư tưởng, chỉ cần gói gọn trong 8 chữ giản dị, dễ hiểu TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT. Từ nền móng tư tưởng đó, tôi thấy cần xác định lại về tổ chức: Đảng là tập hợp tinh hoa trí tuệ và nhân cách của mọi công dân Việt Nam yêu nước vì dân, thuộc mọi giai cấp giai tầng tôn giáo dân tộc tự nguyện hiến dâng đời mình làm người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu chiến đấu cho nền hòa bình thống nhất độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, cho tự do của mỗi con người Việt Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất độc lập dân chủ và giầu mạnh.Xác định lại như thế Đảng mới tự gỡ mình thoát khỏi thảm trạng đối nghịch giữa danh và thực bởi cái vòng kim cô của ý thức hệ giai cấp phản khoa học mà thế lực nội xâm bấy lâu sử dụng như một công cụ nhằm thâu tóm mọi quyền của đảng viên, của công dân vào tay một người, một nhóm. Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình bằng gì? 1/ – Bằng đường lối đúng, 2/ – Bằng vận động giáo dục thuyết phục 3/ – Bằng tấm gương tận tụy, hy sinh, chí công vô tư của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong quá khứ, Đảng đã được nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đạo mà không cần một điều Hiến định nào như điều 4 hiện nay là nhờ vậy. Đó là quá trình xuôi thuận của một lực lượng chính trị từ nhân dân mà ra, vì nhân dân quên mình mà trở thành lực lượng lãnh đạo, trong đó yếu tố thường xuyên gương mẫu của người chiến sĩ cách mạng, người cán bộ lãnh đạo là quyết định. Không có yếu tố này thì các yếu tố khác dù hay ho mấy cũng không được nhân dân tin theo. Nhưng từ đại hội 4 (1976), đã xuất hiện một diễn trình ngược. Đường lối thì sai lầm, mất yếu tố tiền phong gương mẫu về trí tuệ. Cán bộ Đảng thì trượt dài trên con đường thoái hóa sa đọa, mất yếu tố gương mẫu về nhân cách. Không thể vận động giáo dục thuyết phục được ai nữa, chỉ còn cách bưng bít ngăn chặn thông tin, mệnh lệnh áp đặt, thậm chí dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để trấn áp đồng chí đồng bào yêu nước yêu tự do. Đảng trở thành một hệ thống siêu quyền lực trùm lên hệ thống Nhà nước với bộ máy cồng kềnh đông đặc quan chức, trụ sở đồ sộ, xe cộ nghênh ngang chi xài bằng tiền thuế của dân, công việc trùng lặp chồng chéo, quyền càng to trách nhiệm càng mù mờ, lẩn tránh đùn đẩy lẫn nhau, hàng ngàn hàng vạn sự bê bối chồng chất mà không mấy trường hợp chỉ ra được cá nhân nào chịu trách nhiệm. Để giữ vững sự lãnh đạo đích thực của Đảng theo đúng 3 tiêu chí nêu trên thì cần gì một bộ máy khổng lồ như thế với trụ sở phương tiện tốn kém như thế? Một trí tuệ lớn trong lều rách hay nơi hầm tối giữa lòng dân cũng đủ đem đến cho dân cho nước một sự lãnh đạo đúng đắn.Tôi không cực đoan máy móc yêu cầu cán bộ đảng thời bình phải sống như thời chiến, nhưng đây là điều bắt buộc bởi nguyên tắc không được nói một đằng làm một nẻo, đã tuyên bố vì nhân dân quên mình, là người chiến sĩ tiền phong gương mẫu thì phải sống đúng như thế. Cấu trúc 2 hệ thống quyền lực song trùng là một cấu trúc phản động phản dân chủ du nhập từ mô hình Liên xô, phản lại chính chức năng lãnh đạo, phản lại truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, là cấu trúc tự cắt đứt cội nguồn dân tộc, cội nguồn cách mạng, nó chỉ mở cửa cho những phần tử cơ hội chui vào Đảng ngày càng đông để thăng quan phát tài, nhân danh cách mạng để làm vua quan cách mạng, thực chất đây là một hệ thống phản cách mạng, phản tiến hóa. Một đòi hỏi rõ ràng bức thiết đã đặt ra: Để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện ngay mấy biện pháp sau đây: 1/ – Đảng tự nguyện giao lại toàn bộ cơ sở vật chất phương tiện cho Nhà nước; toàn bộ cán bộ và nhân viên thuộc các cấp ủy Đảng từ cơ sở tới trung ương tự nguyện tự túc để hoạt động, những bộ phận chuyên nghiệp (rất gọn nhẹ) thì thuê trụ sở và hưởng lương từ quỹ đảng phí hoặc do nhân dân tự nguyện công khai minh bạch góp nuôi. Một đảng chính trị hoạt động theo phương thức này nhất định sẽ được nhân dân thấy rõ phẩm chất vì nhân dân quên mình mà sẵn sàng gửi gắm niềm tin, và đến lượt mình bản thân đảng lãnh đạo cũng hoàn toàn có đủ tự tin để đón nhận sự ra đời hợp qui luật của các đảng đối sánh, đối lập cùng chung mục tiêu (và động lực) Tổ Quốc trên hết quyền dân trên hết như mình, thi đua nhau cạnh tranh nhau xem đảng nào có đường lối đúng nhất, có nhiều cán bộ gương mẫu nhất để cho dân chọn. 2/ – Đảng trao quyền cho dân giúp Đảng lựa chọn cán bộ bằng cách tổ chức bầu cử Quốc hội trước rồi mới tiến hành đại hội Đảng, những đảng viên nào trúng cử vào Quốc hội mới được đề cử ứng cử vào trung ương, đồng thời phải trả lại quyền công dân cho toàn thể đảng viên được tự do ứng cử vào Quốc hội không cần thông qua tổ chức Đảng.Cũng đồng thời kiến nghị với Quốc hội sửa ngay luật bầu cử, bỏ điều khoản sàng lọc ứng cử viên qua hiệp thương ở Mặt trận Tổ Quốc vì điều khoản này thủ tiêu quyền tự do ứng cử của công dân. Khi số đảng viên được dân bầu chọn (tất nhiên phải bằng lá phiếu tự do tự chủ) chiếm quá bán trong Quốc Hội – và Quốc Hội phải chuyên nghiệp 100% với thực chất là cơ quan quyền lực tối cao, với vị trí độc lập của 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thì lúc ấy đảng lãnh đạo trở thành đảng cầm quyền, đường lối của Đảng trở thành quốc sách. Người đảng viên là đại biểu quốc hội phải đặt trách nhiệm đại biểu lên hàng đầu, những ý kiến chỉ đạo của cấp ủy không phù hợp với tư duy độc lập của người thay mặt dân ở cơ quan lập pháp thì có quyền không chấp hành. Trong sinh hoạt Đảng và cơ quan dân cử, các ý kiến thiểu số phải được bảo lưu bằng việc bình đẳng công bố và truyền bá rộng rãi, bởi vì bảo lưu trong hộp sọ là vô nghĩa. Thực tế cho thấy các ý kiến thiểu số nếu đúng đắn sáng suốt mà công bố kịp thời sẽ mau chóng trở thành ý kiến đa số giúp Đảng sớm thấy sai lầm, kịp thời điều chỉnh, thay đổi đường lối. Không thể để kéo dài mãi tình trạng toàn bộ quyền lực của đất nước lại thâu tóm vào mười mấy ủy viên Bộ Chính trị mà không người nào đạt tiêu chuẩn tinh hoa về trí tuệ và nhân cách, trong khi vốn cán bộ của Đảng rất dồi dào, đại đa số đảng viên là những người đã sống cuộc đời vì nhân dân quên mình, trong đó có rất nhiều cán bộ tiêu biểu về trí tuệ và nhân cách hơn hẳn mười mấy người đương nhiệm. Và vốn cán bộ của cả dân tộc thì lại càng dồi dào gấp bội. Việc hệ trọng hàng đầu của nước ta (và của bất kỳ quốc gia nào) từ xưa đến nay và mãi mãi về sau là làm sao đưa được những người năng lực tài giỏi nhất, nhân cách đáng tin cậy nhất ra gánh vác việc dân việc nước chứ không nệ là đảng viên hay không đảng viên, đã qua mấy khóa trung ương hay chưa. Hai biện pháp nêu trên khó làm hay dễ làm? Vừa khó vừa dễ. Khó, khi toàn Đảng toàn dân thờ ơ, phó mặc mọi việc cho các quan chức, hoặc thụ động ngóng chờ “vận nước”. Mà các quan chức thì đương nhiên là không ưa gì hai biện pháp trên dù nếu công khai thảo luận thì họ cũng khó bề bác bỏ. Dễ, khi toàn Đảng toàn dân thoát ra khỏi tình trạng thờ ơ thụ động (và manh động khi bị đụng chạm một số quyền lợi cụ thể), tự khôi phục truyền thống tích cực chủ động năng động như trước kia với tấm gương tiêu biểu là các đảng viên Kim Ngọc, Võ Văn kiệt. Phải cùng nhau thống nhất rành mạch nhận thức: khi nói đến sự lãnh đạo của Đảng là nói đến toàn Đảng chứ không chỉ là cấp ủy Đảng. Khi cấp ủy đã bị 51% giặc nội xâm chiếm chỗ thì làm gì còn sự lãnh đạo đúng nghĩa nữa, chỉ còn là mệnh lệnh áp đặt, là tình trạng đầu lĩnh dùng cấp hàm bổng lộc để sai khiến thủ túc, còn thủ túc dùng quà biếu siêu tình cảm nắm lấy yếu huyệt của đầu lĩnh để giữ ghế và leo lên ghế cao hơn. Một sự thật ai cũng thấy từ lâu: đại đa số đảng viên thì tốt, nhưng đa số cấp ủy viên lại càng ngày càng tệ hại liên tục hết nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác.Nhiệm kỳ nào nhân sự cũng được bí mật sắp đặt ở đâu đó bên trên từ bàn tay một người hoặc một nhóm người rồi đại hội nào cũng “dân chủ đổi mới đoàn kết”, cũng “thành công tốt đẹp” để bầu ra các cấp ủy ngày càng tệ hơn. Ai bầu? Ở cơ sở thì đảng viên tốt chiếm đa số tham gia bầu (các cơ sở đảng trong cơ quan chưa hẳn được như thế). Nhưng nếu thụ động bầu theo cái danh sách được sắp đặt sẵn từ bên trên, thì tất đẻ ra một đoàn đại biểu đi dự đại hội phần lớn là quan chức. Cứ thế, tới đại hội toàn quốc thì trở thành đại hội của các quan chức trong Đảng, tính chất đại diện cho đa số đảng viên – những người vì nhân dân quên mình, không còn nữa, cấp ủy được bầu ra trở thành cấp ủy quên mình trên đầu lưỡi, lòng dạ thì dốc hết vào việc tìm mọi cách khoét công quỹ, móc túi dân cướp đất dân bịt miệng dân. Đã bao nhiêu đại hội như thế rồi. Nay có để như thế nữa không? Nhiều cụ lão thành bảo nhau: Đại hội 11 này chúng ta phải quyết làm phá sản thủ đoạn bè phái sắp đặt nhân sự. Bao năm qua, ý thức tổ chức của ta, niềm tin ở cấp trên của ta bị lợi dụng để phục vụ cho trò sắp đặt nhân sự. Nay thì đừng hòng lợi dụng ta nữa. Ta sẽ gạch phăng những cái tên ta biết rõ là phần tử xấu, cũng gạch phăng cả những cái tên chưa biết rõ là có tốt hay không, gạch tuốt, gạch tuốt, những ai tốt thì hãy công khai tự nguyện làm đảng viên tự túc hoạt động, giao lại trụ sở cho Nhà nước, không nhận lương, tự động đi vận động quần chúng chống nội xâm chống bành trướng, những ai như thế tự ứng cử thì sẽ không bị ta gạch tên, chúng ta bảo nhau trong tất cả các chi bộ các đảng bộ, gạch tuốt, gạch tuốt những cái tên bất lương, phải làm sao có một đại hội toàn quốc gồm phần lớn là các đại biểu tiêu biểu về trí tuệ và lương tâm thì mới mong có được một Trung ương mới, một Bộ Chính trị mới xứng đáng. Nghe được vậy, một cán bộ tổ chức còn trẻ và thật tâm muốn đổi mới thưa lại: - Cháu đố các bác thay đổi được cái nếp bỏ phiếu theo sự sắp đặt ấy đấy. Nhiều năm trước, người ta đã chủ trương khéo để các bác nghỉ sinh hoạt Đảng mà vẫn giữ danh hiệu đảng viên, đến kỳ đại hội mời các bác về nhận huy hiệu, nhận quà là chính rồi giơ tay biểu quyết mọi sự đã sắp sẵn, các bác đã cao tuổi, cơ thể mệt mỏi, đầu óc lại thiếu thông tin, cái cánh tay giơ lên, cái bàn tay cầm lá phiếu đã bị điều kiện hóa theo tâm lý đám đông rồi, dễ gì mà thay đổi. - Tình hình bấy lâu đúng là có như thế thật và không phải bây giờ cháu nói ta mới biết. Trong phạm vi toàn Đảng thì bọn quên mình đầu lưỡi là thiểu số. Chúng xảo quyệt dùng thủ đoạn sắp đặt để sao cho người của chúng đều chiếm đa số ở các đại hội. Nhưng nay thì cái thủ đoạn ấy không lừa ai được nữa đâu, bọn chúng không thể muốn tác oai tác quái thế nào cũng được đâu. Khi đã nhận ra thủ đoạn của chúng rồi thì những người cả đời vì nhân dân quên mình như chúng ta cùng con cháu ta, bà con bạn hữu ta, những người thuộc phe vì nhân dân quên mình này chiếm tuyệt đại đa số đấy nhé, chúng ta quyết dùng lá phiếu làm vũ khí để loại chúng ra. Chúng ta chỉ cần bảo nhau ngắn gọn mấy câu “Chống mệt mỏi, chống sắp đặt!”, “Nghị trường là mặt trận, lá phiếu là vũ khí, cử tri là chiến sĩ!”, “Gạch tuốt! Gạch tuốt bọn quên mình đầu lưỡi!”, ngắn gọn mấy câu thế thôi, bảo nhau qua báo chí, bảo nhau qua mạng thông tin toàn cầu, ai không có báo có mạng thì truyền miệng, truyền hàng ngày, truyền hàng giờ, ở bất cứ đâu, trong nhà, ngoài phố, trong lúc giải lao bên bờ ruộng, trong đám cưới đám giỗ đám tang, đám họp họ, họp đồng hương, họp lớp cũ trường cũ, bảo nhau làm một việc rất dễ làm, đảng viên nào cũng làm được, cử tri nào cũng làm được, làm như một niềm vui, làm cho tăng tuổi thọ, đây là niềm vui lập quyền dân bốn nghìn năm ta mới có, bắt đầu từ cái quyền rất bình thường: “Gạch tuốt! Gạch tuốt bọn quên mình đầu lưỡi!”. Đà Lạt 4g 48’ ngày 21.12.2009 BMQ |
Posted by: basaigon on: 20/11/2009
Posted by: basaigon on: 20/11/2009
Nguyễn Trung Ngôn
Thưa Bác Phùng Liên Đoàn, đọc bài viết ĐỪNG SỢ NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN NGUY HIỂM, HÃY LO CON CHÁU TA MẮC NỢ DÀI DÀI của bác, cháu đồng ý với bác hoàn toàn. Chỉ nhưng, chỉ nhưng Ta không như Tây bác ạ. Do đó, cháu lại càng lo hơn nếu Quốc hội phê chuẩn dự án ĐHN.
Thứ nhất. Tây có các ý kiến trái chiều. Do đó, sẽ dễ dàng đúc kết các ưu khuyết từ mọi phía để rồi rút ra nhiều điều bổ ích. Còn ta thì sao? Ta có “các ý kiến đều đồng thuận”! Lại thêm, phản biện khoa học chỉ được mang danh nghĩa cá nhân và phải gởi cho các cơ quan có thẩm quyền để cất vào hộc tủ. Do đó, sẽ không biết đâu mà mò!
Thứ hai. Tây chỉ có Tiến sĩ. Còn chúng ta có “Tiến sĩ đột phá”! Bằng Tiến sĩ đương nhiên là một minh chứng cho sự thành công trên đường học vấn của một cá nhân. Tuy nhiên, không có nghĩa có bằng Tiến sĩ là sẽ bảo đảm thành công trong công việc. Ở Mỹ, dù có bằng Tiến sĩ mà làm không xong việc thì vẫn bị đuổi việc như thường. Không phải như ta, miễn có bằng Tiến sĩ xong rồi thì cứ điềm nhiên tọa thị và đột phá.
Thứ ba. Trách nhiệm. Tây nó ràng buộc trách nhiệm rõ ràng. Còn ta thì lỗi là do “cậu đánh máy, cô thư ký”! Do đó, khi nhà máy ĐHN có bề gì thì chúng ta sẽ nghe “anh công nhân”!
Thứ tư. Các công ty đầu tư nhà máy ĐHN ở Mỹ là công ty tư nhân. Do đó, họ phải cân nhắc chuyện lời lãi kỹ lưỡng. Ngoài ra, các hiệp hội môi trường, cư dân có thể kiện đòi bồi thường nếu các nhà máy gây nguy hiểm đến sức khỏe người dân. Còn chúng ta thì ĐHN là con cưng của ông Quốc doanh. Lời thì mấy ổng biết. Lỗ đã có dân lo trả nợ. Đến như trên 40% công ty quốc doanh lỗ trắng mắt nhưng các ông Bộ trưởng vẫn trả lời tỉnh queo “ Nhiệm vụ chính trị… Tuy lỗ, nhưng nhìn chung là tốt”!
Thứ năm. Người Mỹ ưu tiên người Da đỏ trong thuế má khi làm ăn hay học hành. Nhưng khi nói đến công việc khoa học kỹ thuật cao hay ĐHN thì không có chuyện “Ưu tiên con em địa phương”! Còn ta thì khác. Ưu tiên con em… là chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước. Đến khi vỡ chuyện thì “Do năng lực trình độ có hạn…”. ĐHN mà giao cho người kém trí thì khác nào tự sát! Đó là chưa kể đến những chỗ nào thơm ngon thì đã dành cho các cô chiêu cậu ấm. Dù năng lực của các “cô chiêu, cậu ấm” chỉ thường thường bậc trung hoặc còn dưới thường thường bậc trung rất xa!
Thứ sáu. Chúng ta có truyền thống “mang dép lốp vào vũ trụ” nên thay vì mời các nhà khoa học, chuyên gia đi tham quan nghiên cứu, thì chúng ta mời “NÔNG DÂN” đi tham quan cho sáng mắt! Vâng, trả nợ nhiều quá nên mắt sáng tưng bừng… vì nhắm lại cũng còn thấy nợ!
Thứ bảy. Khi muốn làm dự án gì, các bộ ngành của ta không ngại “TÔ HỒNG” bản báo cáo để dễ dàng làm hoa mắt hòng lừa các Đại biểu QH! Lại thêm QH của ta là một QH ôm đồm. Theo lời ông Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên là “Cõng em phải thôi xay lúa” [A]! Vừa làm Chủ tịch tỉnh vừa làm Ông Nghị. Chỉ làm một việc mà các vị ấy còn làm chưa tốt. Cứ xem lâm tặc, tham nhũng hoành hành khắp nơi thì biết… Vậy thời gian đâu các vị ấy làm việc của ông Nghị? Thôi thì, Nghị gật cho lẹ! Điểm độc đáo là, tuy các vị ấy bận hai ba việc và việc nào chẳng ra việc nào, nhưng khả năng làm “KINH TẾ” riêng tư thì các vị ấy rất giỏi, hoặc nói đúng hơn siêu giỏi! Dù các vị ấy không tốt nghiệp khoa Kinh tế!
Thứ tám. Mỹ chỉ có Ma cà rồng. Ai bị nó hút máu là chết ngay. Còn chúng ta thì có “Ma lai rút ruột”! Người bị nó rút không chết ngay. Nhìn vẫn bình thường nhưng phải sống lây lất! Chắc Bác không lạ với những câu này trên báo chí:
- Rút ruột nhưng không ảnh hưởng đến công trình!
Cháu nghĩ hoài mà không thông được câu này. Nói vậy ai ngon đưa cháu “RÚT RUỘT” một cái thử xem? Có ảnh hưởng đến sức khỏe không thì biết!
Thứ chín. Chúng ta không phải là xứ sở hoa hồng. Nhưng “HOA HỒNG” của ta rất nổi tiếng! Những PCI, tiền Polymer…. Lại thêm những cái “TÀI KHOẢN” nhạy cảm ở các nhà băng nước ngoài… nữa! Lại thêm chúng ta có “NHÂN THÂN TỐT,… ĐỪNG ĐỂ MẤT TẤT” và những điều “BÍ MẬT QUỐC GIA”! Do đó, báo chí không thể viết, người dân không thể biết, hay kiện!
Thứ mười. Tư duy của ta khác người. Khi Liên Xô (cũ) thành công phóng tàu vũ trụ thì người Mỹ cuống cuồng vào cuộc chạy đua. Và chỉ trong 10 năm, người Mỹ đã thành công đưa người của họ lên mặt trăng. Bởi vì người ta biết trọng dụng nhân tài và dùng người đúng nơi đúng chỗ. Còn chúng ta thì sao? Sau bao nhiêu năm “Hiện đại hóa, công nghiệp hóa” để đưa Đất nước lên XHCN. Hôm nay nền công nghiệp, khoa học kỹ thuật cao của chúng ta đang ở đâu?
Gần đây, các dự án khai thác bauxite để đưa ngành công nghiệp khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước. Vậy xin hỏi ngành này cần bao nhiêu Kỹ sư? Bao nhiêu Thạc sĩ, và bao nhiêu Tiến sĩ? Theo lời tác giả “tỉnh táo” Lã Thanh Tùng thì chỉ cần đào tạo 18 tháng các con em đã có thể làm chủ! Chúng ta có một lượng Tiến sĩ hùng hậu, một lượng Thạc sĩ đông đảo, và một nguồn Kỹ sư đáng nể mà Đất nước không khá. Huống chi chỉ đào tạo 18 tháng?
Thứ mười một. Khi Chính phủ muốn làm gì thì những gì người dân nghe cũng rất tốt. Chỉ kết quả là không tốt. Hầm Kim Liên chưa xài đã ngập. Hầm Thủ Thiêm chưa chịu lực, chưa dìm đã nứt. Công trình vĩ đại Dung Quất chưa chạy 100% mà van đã hỏng! Đến nay đã qua gần hết tháng 11 mà van đã được sửa xong để ông Thủ tướng cắt băng “Khánh thành” lần nữa hay chưa cũng không ai biết!
Đã vậy, tư duy người Việt chúng ta rất độc đáo, khác người! Là Đảng viên nhưng Hoàng Sa, Trường Sa chỉ là “bãi chim ỉa”! Chuyên gia ngành dầu khí thì “chờ 1 cái van nhà máy lọc dầu 60 tháng” là chuyện “bình thường”! Nhà máy lọc dầu thì thấm béo gì với nhà máy ĐHN! Chắc đến cái van nhà máy ĐHN thì phải chờ đến 3 năm! Nếu cháu không nhầm thì khi dừng nhà máy ĐHN 1 ngày để bảo trì, công ty điện lực mất ít nhất 1 triệu đô la!
Thứ mười hai. Trái đất đang nóng lên. Rồi tai họa tsunami không ai có thể lường trước. Xây dựng nhà máy ĐHN gần ven biển có quá nguy hiểm khi 30 năm sau nước biển dâng cao do băng tan. Chỉ sợ, lúc đó, hậu duệ của ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lại nói rằng:
- Sóng thần lịch sử! Đã tính toán cả rồi. Có nhà máy ĐHN nào mà không phê duyệt chứ! Phải xả lò thôi. Chứ không thì bể nguyên lò thì nguy hiểm gấp ngàn lần!
NTN
Tham khảo:
http://vietnamnet.vn/chinhtri/200910/Goi-kich-cau-chua-den-tam-co-de-Quoc-hoi-giam-sat-876103/
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Posted by: basaigon on: 21/09/2009
| 21/09/2009 08:52 (GMT + 7) | ||||
| (TuanVietNam) - Trung Quốc đã gửi công văn phản đối cả hai bản đăng ký thềm lục địa mà Việt Nam và Nhật Bản đệ trình lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS). Hai công hàm phản đối này thể hiện lập trường hai mặt của Trung Quốc với việc áp dụng Công ước Luật biển quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS). | ||||
|
Okinotori (tên viết bằng chữ Kanji: 沖ノ鳥島. Âm Hán Việt: Xung Điểu đảo) là một bãi đá san hô nổi của Nhật Bản, nằm ở vị trí 20,25 độ vĩ bắc, 136, 05 độ độ kinh đông, cách Tokyo 1740 km về phía đông nam. Nhật Bản đã đệ trình bản đăng ký thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) cho Okinotori vào ngày 12/11/2008. [1] Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối vào ngày 6/2/2009. [2]. Và mới đây, ngày 25/8/2009, sau khi Nhật Bản báo cáo về thềm lục địa tại CLCS, Trung Quốc phản đối một lần nữa [3]. Trung Quốc lập luận rằng Okinotori chỉ là một bãi đá, tự nó không thể duy trì sự cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng nên chiếu theo điều 123(3) của UNCLOS, bãi đá này không được hưởng EEZ và thềm lục địa. Trong công hàm nói trên, Trung Quốc đã căn cứ vào các điều khoản của UNCLOS để phản đối yêu sách của Nhật Bản. Họ sử dụng các khái niệm của UNCLOS như “vùng đặc quyền kinh tế”, “thềm lục địa”…, phân biệt rõ hai khái niệm “đảo” và “đá”, hơn nữa còn lưu ý CLCS rằng, Okinotori chỉ là “đá”, và Ủy Ban chỉ có quyền hạn và trách nhiệm xem xét về “đảo” nên Okinotori nằm ngoài quyền hạn của Ủy ban. Thế nhưng, đúng 3 tháng sau, ngày 7/5/2009, khi Việt Nam đệ trình bản đăng ký (chung với Malaysia) lên Ủy ban, Trung Quốc lại phản đối bản đăng ký đó bằng một quan điểm vi phạm nghiêm trọng UNCLOS. Lập luận của Trung Quốc đối với Việt Nam và Malaysia về biển Đông
Trong bản đăng ký chung với Malaysia nộp ngày 7/5/2009, “Việt Nam cho rằng mình được quyền thiết lập một thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở”, theo đúng qui định của UNCLOS [4]. Trung Quốc gửi công hàm lên CLCS phản đối đăng ký của Việt Nam ngay trong ngày. [5] Trong công hàm ấy, lần đầu tiên Trung Quốc công bố tại Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ vẽ đường “lưỡi bò” liếm gần 80% biển Đông. UNCLOS quy định rằng mỗi quốc gia giáp biển đều có lãnh hải 12 hải lý, có EEZ rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, và nếu thềm lục địa của nước ven biển có thể kéo dài quá 200 hải lý thì nước ấy có thể có “thềm lục địa mở rộng”. Nếu như những vùng trên của các nước chồng lấn với nhau thì sẽ được phân chia theo nguyên tắc công bằng. Vậy, chiếu theo UNCLOS, Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines và Trung Quốc đều là những quốc gia tiếp giáp biển Đông nên mỗi nước đều có phần của mình trên vùng biển này. Thế nhưng, Trung Quốc đòi hỏi khoảng 80% biển Đông, để lại các nước còn lại bao quanh biển Đông là Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines một phần rất ít ven bờ biển. [6] Rõ ràng, khi nêu quan điểm về EEZ và thềm lục địa của Nhật Bản, Trung Quốc căn cứ vào UNCLOS một cách nghiêm ngặt, nhưng khi đưa ra quan điểm về chủ quyền của các nước tiếp giáp Biển Đông, Trung Quốc lại vi phạm nghiêm trọng Công ước này. Mặt khác, trong công hàm phản đối Nhật Bản, Trung Quốc cho rằng Okinotori không có đời sống kinh tế độc lập nên không thể có EEZ và thềm lục địa. Nhưng trong công hàm phản đối Việt Nam, họ lập luận: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với những đảo trên Biển Đông và những vùng nước xung quanh, và được hưởng những quyền chủ quyền và tài phán bao trùm lên những vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan của chúng (hãy xem bản đồ đính kèm)”. [7] Như vậy, họ đã gần như trực tiếp cho rằng các “đảo” trên Biển Đông có những “những vùng nước”, “tầng đất” và “đáy biển” (tức thềm lục địa) của riêng chúng. Và về quy mô thì tất cả những thứ này hợp lại thành đường lưỡi bò mà họ yêu cầu hãy xem trong bản đồ đính kèm. Nhưng, tất cả các “đảo” trên Biển Đông đều tương tự Okinotori: không nơi nào có đời sống kinh tế riêng, do đó, không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý, lại càng không thể mở rộng đến 80% Biển Đông. Bất kể các đảo trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước nào, nước ấy cũng không được căn cứ vào đó để yêu sách đến 80% Biển Đông. Tóm lại, cùng là những thực thể địa lý không có đời sống kinh tế độc lập, nhưng ở công hàm phản đối Nhật thì họ cho là không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý, nhưng ở công hàm phản đối Việt Nam thì lại cho là có, thậm chí là có với một quy mô chưa từng thấy trong lịch sử. [8] Phản ứng của Việt Nam và Nhật Bản Ngày 8/5/2009, Việt Nam đã gửi công hàm tới CLCS, một mặt khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt căn cứ vào UNCLOS để bác bỏ phản đối của Trung Quốc. Trong phiên họp chính thức của CLCS ngày 27-28/8/2009 mới đây, Việt Nam đã tái khẳng định lập trường của mình. Lập trường của Việt Nam là đúng, bởi lẽ cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS, và do vậy cả hai nước đều phải tuân thủ Công ước này. [9]
Tuy nhiên, có lẽ Việt Nam nên lưu ý đến lập luận mà Trung Quốc dùng để phản đối Nhật Bản, đối chiếu lập luận đó với lập luận mà họ đã dùng với Việt Nam, để cho thế giới thấy rõ sự mâu thuẫn trong lập trường của họ. Ngay tại Liên Hợp quốc, họ đòi hỏi phải áp dụng UNCLOS ở chỗ này, nhưng vứt bỏ UNCLOS ở chỗ khác. Về phía Nhật Bản, chưa có thông tin chính thức họ trả lời phản đối của Trung Quốc như thế nào. Nhân đây, những hành động của họ đối với Okinotori có thể gợi ý cho Việt Nam những bài học tốt. Người dân Nhật gần như không quan tâm gì đến Okinotori cho đến năm 2004, khi tàu Trung Quốc tăng cường xuất hiện ở đây, và họ bất ngờ tuyên bố với Nhật rằng Okinotori không đủ điều kiện để yêu sách thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế. [10] Đá Okinotori nằm bên sườn phía đông Nhật Bản, án ngữ đường biển nối liền căn cứ hải quân Guam của Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu khống chế được điểm yết hầu này, Trung Quốc có thể cắt đứt mối liên hệ trên biển giữa Guam và Đài Loan. Ngay khi cảm nhận được mối nguy, cả chính phủ lẫn người dân Nhật đều hành động một cách quyết liệt và đồng thuận. Về phía nhân dân, hoạt động của các tổ chức dân sự là hết sức ấn tượng, đặc biệt có thể kể đến tổ chức Nippon Zaidan. [11] Được tài trợ bởi các doanh nhân, Nippon Zaidan chi hàng triệu USD tổ chức nghiên cứu một cách quy mô và bài bản về Okinotori trên tất cả các lĩnh vực, và dĩ nhiên, không thể thiếu lĩnh vực công pháp quốc tế. [12]
[1] Đăng ký của Nhật [3] “Trung Quốc phản đối đăng ký thềm lục địa của Nhật: Okinotori chỉ là đá” [4] Đăng ký của VN [5] Công hàm TQ phản đối Việt Nam [6] Để biện hộ cho quyền sở hữu này, trong công hàm phản đổi, Trung Quốc chỉ đơn giản là khẳng định rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” , đã “quản lý” nó liên tục, và chủ quyền của họ được “quốc tế” “thừa nhận rộng rãi”. [7] Ở đây họ cố ý né trách UNCLOS đến từng từ ngữ một. Họ không nhắc đến thuật ngữ EEZ, và thay vì dùng thuật ngữ “thềm lục địa” (continental shelf) của UNCLOS, họ dùng những từ đồng nghĩa “tầng đất”(subsoil) và “đáy biển” (seabed). [8] Có một vấn đề đặt ra cho Việt Nam. Cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đều không có đời sống kinh tế độc lập. Vậy, nếu chiếu theo UNCLOS, cần nói về chúng như là “đảo” hay “đá”? Việc gọi chúng là “đảo” hay “đá” không ảnh hưởng đến chủ quyền của VN với chúng, nhưng có thể ảnh hưởng một phần đến việc tranh chấp lãnh hải, EEZ và thềm lục địa bao quanh những đảo/đá đó. [9] Việt Nam trả lời Trung Quốc [10] Yukie Yoshikawa, Okinotorishima: Just the Tip of the Iceberg [11] Các nghiên cứu của Nippon Zaidan về Okinotori [12] Ví dụ, báo cáo của Kuribayashi Tadao, giáo sư Luật ở Đại học Toyoeiwa, trong khuôn khổ một nghiên cứu của Nippon Zaidan, cũng dựa vào UNCLOS để biện luận rằng Okinotori có thể có thềm lục địa và EEZ. Lý do là, không có một định nghĩa rõ ràng về “đá” trong UNCLOS. Cái ý niệm cho rằng “đá” là nơi con người không thể cư trú và không có đời sống kinh tế độc lập là những căn cứ mơ hồ, vì trong thời đại ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta hoàn toàn có thể làm cho một nơi không thể cư trú thành có thể cư trú, một nơi không có đời sống kinh tế độc lập trở nên có một đời sống kinh tế riêng. |
Posted by: basaigon on: 16/09/2009
Hoàn Cảnh:
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chu Ân Lai, Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).
Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công nhận bản tuyên cáo trên của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên các quần đảo biển Đông. Ông đã viết công hàm ngày 14 tháng 9 và cho đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958…

Nội Dung:
“Thưa đồng chí Tổng lý
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Hình:Congham.jpg
Phân Tích trên Tạp chí Thời Đại:
Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau:
“Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”
(Có thể dịch là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”).
Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.
Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.” Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.
Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).
2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.
3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…
Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.
Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.
Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt. Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.
Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.
Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Toà án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.
Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.
Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.
Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.
Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.
Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời. Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc ga đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.
Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử. Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương
Vài lời từ Trung Tâm Dữ Liệu Hoàng Sa:
Chúng tôi đã rất đắn đo khi đưa công hàm này vào Hoàng Sa Wiki, tuy nhiên do vấn đề này là một phần của lịch sử về Hoàng Sa nên không thể né tránh được. Chúng tôi mong muốn các bạn thanh niên trong và ngoài nước không nên dùng vấn đề này để bới móc lẫn nhau,cái cần của chúng ta là hiểu rõ vấn đề này để đối phó với Trung Quốc. Cũng hy vọng rằng qua vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa, tất cả chúng ta có thể ngồi xuống với nhau, và tạo hơn nữa sự đoàn kết để tất cả vì tương lai của đất nước Việt Nam.
Xin cám ơn các bạn
(nguon hoangsa.org)
Posted by: basaigon on: 12/09/2009
Bài của Mãn Châu trên tạp chí Doanh nhân và Pháp luật.
Tiếng lóng vốn là tiếng của…vỉa hè, chợ búa, là thứ tiếng của đám đông. Có lẽ chỉ các bậc tu hành mới không có (chứ đôi khi các ngài cũng dùng) tiếng lóng chuyên dùng . Thoạt kỳ thủy đó là tiếng của một giới nào đó ( ăn chơi, mánh mung, lính tráng…), là con đẻ của một ngoại cảnh nào đó, không phải “tiếng lòng” tức không phải của nội tâm, càng không là ngôn ngữ của tư duy .Định nghĩa thật khó, cách giản tiện nhất là… nói tiếng lóng.
Sài Gòn là đất trẻ, nhiều dân tứ xứ (Trung Nam Bắc chen vai thích cánh với Hoa,Ấn,Tây, Mỹ v.v. Chủ yếu là thành phố công thương nghiệp tạo thành lớp cư dân nhiều sắc thái, cá tính, hơi “bốc”, trọng nghĩa khí mang tính giang hồ, thích sống thoáng, khoái hoạt.Hơn nhiều nơi khác, sức ma sát ở đây rất mạnh theo dạng chung của những thành phố cảng, càng mạnh càng bén nhạy trở thành đắc địa của tiếng lóng.
Dân chơi rủ nhau xuống xóm phải tránh bị bể ống khói,( hoặc uống café đen tiểu ra café sữa), muốn thế nhớ mặc áo mưa. Cái dụng cụ dùng cả lúc nắng đổ lửa này đang đắc thời đắc thế thì bỗng… thân bại danh liệt. Số là vào năm 1963, khi một vị đại sứ cạnh chính quyền Sài Gòn sang nhậm chức thì không chậm trễ, dân chơi lúc xuống xóm đã có ông đại sứ đi kèm! Chả là vì ngài đại sứ họ tên là Henri Cabot Lodge, trong đó cabote theo tiếng Pháp là… cái áo mưa thứ thật.
Dân ăn chơi không phải ai cũng sòng phẳng, nhiều kẻ hay tìm bạn bò mộng ( khá giả) để bắt địa (kiếm tiền). Ông chủ quán cà phê La Pagode nếu giờ còn sống mà trí nhớ tốt liệu còn thắc mắc vì sao có mấy chàng sinh viên ngày nào cũng kéo đến kêu cà phê lát rồi bỏ đi, chỉ có một người ngồi lại…đọc sách cả tiếng đồng hồ.? Không đâu thưa ông chủ quán, ngồi làm va li chờ bạn đi kiếm tiền đến …chuộc đó!
Nhớ hồi 56-57 gì đó, có cô ca sĩ nổi tiếng, một lần đi chơi… Nhà Bè (hồi ấy còn rất hoang vu ) hai người làm gì trong xe hơi chẳng biết nhưng bất ngờ bị tuần cảnh xét hỏi, bèn nói em với anh đi …ăn chè, dù tại Nhà Bè thuở đó mua cả chỉ vàng cũng không có thứ gọi là chè ấy. Thế là trong từ điển tiếng lóng, ăn chè ra đời, dùng làm gì thì cứ thử ắt biết.
Cũng khoảng đầu những năm 60, Sài Gòn có một nhà báo chuyên viết bài “nâng bi”, ca tụng đám tai to mặt bự, chủ bút một tờ báo do chính quyền tài trợ. Có lẽ vì mặc cảm bị anh em dè chừng, nhà báo bỗng nổi hứng viết một bài ngôn ngữ rõ là “nâng bi” nhưng bị ai đó đâm thọc mà thành ra “bóp dế”, mà là “mó dế ngựa” nên nhà báo bị xộ khám nhốt chung với du đãng. Đã mang thân tù tội, mà còn khoe mẽ nên mới bị bạn tù tẩn cho một trận mất trắng một mảng tóc.Từ đấy “mông Thẩm Thuý Hằng” (diễn viên điện ảnh) được dành riêng ám chỉ cho cái đầu ông cộng với “Hít tô phe” (hút thuốc phiện) mà anh có từ trước.
“Dân chơi cầu ba cẳng” khi đã ngồi với nhau thế nào cũng phải chăm phần chăm (100%) .Số là thời chính quyền cũ đó, mỗi khi tình hình an ninh có vấn đề thường có lệnh cấm lính xuất trại, ngoài cổng treo tấm bảng “cấm trại 100%”. Không được ra phố, ở lại trại 100% thì…100% là hợp nhất! Dân nhậu thấy 100% vừa “đã” vừa hết mình với nhau thế là con số này sống mãi với thời gian. Gặp mồi lạ hoặc mồi chế biến cầu kỳ khoái khẩu, bèn kêu “bá chấy” hoặc “ve kêu”, chẳng ai hiểu thực nghĩa là gì nhưng từ đấy, học sinh bị điểm thấp hay bài khó, người lớn gặp chuyện vui, chuyện buồn “tàn canh bí đao” cũng xài luôn, tiếng lóng vốn là của đám đông mà. Nhậu nhiều lỡ mà lên dầu sống khẩn cấp, không kịp chạy ra ngoài bèn cứ ngồi tại chỗ cho chó ăn chè. Lúc ấy ai lỡ xài Đức Mã ( đồng mark- ĐM) còn gọi là xài giấy lớn thì hãy coi chừng.
Sang tới giới công chức, thời xưa không có lệ họp bình bầu kiểm điểm, anh nào từ phòng sếp ra mặt hơi bị không vui thì biết anh ta được mời lên uống trà, hoặc… uống cà phê đen! Nếu thấy anh ta mệt mỏi hãy thông cảm vì trong phòng sếp anh đã phải làm đèn cầy (đứng ngay đơ) cho sếp “xát xà bông” .
Tiếng lóng sinh ra rất nhanh từ một giới nào đó và đời tiếng lóng cũng ngắn. Khi lính Mỹ ào ạt sang miền Nam,chập choạng tối là những cây than (Mỹ đen) hay lảng vảng và đám dắt mối chế ngay ra OK Salem làm ngôn ngữ tiếp thị dù hàng chẳng hề là thuốc lá Salem và dù ngôn ngữ bất đồng nhưng than nghe không hiểu chết liền!.
Đất nước thống nhất, người Sài Gòn làm quen – dĩ nhiên rất nhanh, tiếng lóng mà – những đánh quả, con phe, một vé hai vé, bôi trơn, mắt thứ hai tai thứ bảy, phao v.v. đã trở nên quen thuộc. Ngày nay có hai thứ không phải ngôn ngữ nhưng rất… biểu cảm: Cục gạch cắm miếng giấy và cái.. Phong bì, không biết có nên cho chúng vào từ điển tiếng lóng thông dụng không? Còn ngày hôm nay thì lô cốt là biểu tượng của một cách gọi là chống ngập của thành phố.
Nhắc đến tiếng lóng mà quên nhà văn quá cố Nguyên Hồng là một sự thất lễ. Trước năm 45 cụ đã lên đời loại tiếng vỉa hè này, đưa nó vào văn chương hẳn hoi. Tiểu thuyết “Bỉ vỏ”- nội cái nhan đề đã là một tiếng lóng ( chỉ người đàn bà móc túi)- của cụ đọc thật “bá chấy”. Lần đầu tiên người đọc được nghe tiếng của giới giang hồ đất cảng Hải Phòng: Mõi ( móc túi); kỳ bẽo (cờ bạc); sò quỷnh (người nhà quê); đông địa (nhiều tiền) v.v. Một dân móc túi thuộc loại trinh sát theo dõi một người nhà quê có vẻ có tiền, khi thấy ông ta vào quán cơm bụi, đã báo cho đàn anh biết một cách gần như công khai : “Sò quỷnh đông địa tranh vòm” (vào quán)! Trong khi chưa tìm ra ai khác nhà văn Nguyên Hồng, xin cứ tôn xưng cụ là …vua tiếng lóng. Vì nhân vật của cụ nói nguyên một câu bằng tiếng lóng, còn đám hậu sinh chỉ đệm được vài từ là cùng .![]()
Tiếng Lóng Sài Gòn
(Lê Văn Sâm)
… Có thể bạn chưa biết
Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời ‘tiếng lóng’ khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.
Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành một chùm tiếng lóng ’sức mấy’ để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám.”
Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn bị tạm chiếm, Tây – Mỹ nhiễu nhương, quê hương chiến tranh buồn phiền; ’sức mấy’ đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt ‘tính tính tè tè, tè ti tè ti té‘, làm cho đường phố càng náo loạn hơn.
Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra cụm từ tiếng lóng ‘xưa rồi Diễm ơi‘, mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe muốn gạt phăng đi.
Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng ‘Cai gà‘, gọi cảnh sát là ‘mã tà’, vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành ‘mã tà‘. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: ‘gác dan‘ tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dan. Cũng như nói ‘de cái đít‘ tức lùi xe arriere; tiền bồi dưỡng người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi ‘tiền boa‘, sau này chế ra là ‘tiền bo‘.
Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi ngân hàng là nhà băng, gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là ‘con cò‘, còn nếu gọi ‘ông cò‘ là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi ‘thầy cò‘ tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói ‘cò mồi‘ là tay môi giới chạy việc, ‘ăn tiền cò‘ thì cũng giống như ‘tiền bo’, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.
Thời kinh tế mới phát triển, đi xe auto gọi là đi ‘xế hộp‘, đi xe ngựa gọi là đi ‘auto hí‘, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là ‘xe điếc‘, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là ‘đi Cấp‘, đi khiêu vũ gọi là ‘đi bum‘, đi tán tỉnh chị em gọi là đi ‘chim gái‘, đi ngắm chị em trên phố gọi là ‘đi nghễ‘, gọi chỉ vàng là ‘khoẻn‘, gọi quần là ‘quởn‘, gọi bộ quần áo mới là ‘đồ día-vía‘. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là ‘đi xòe‘, đi đánh chắn gọi là ‘múa quạt‘, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là ‘đi thoa‘, đi uống bia gọi ‘đi nhậu‘, đi hớt tóc gọi đi ‘húi cua‘. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là ‘đi đầu dầu‘, tức các chàng trai ăn diện ‘đi nghễ‘ với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là ‘hết sẩy‘, quê mùa chậm chạp gọi là ‘âm lịch‘, hách dịch tự cao gọi là ‘chảnh‘.
Tiền bạc gọi là ‘địa‘, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu ‘khứa lão đa địa‘ có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là ‘xù‘, ‘xù tình‘, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là ‘bắt địa‘, ăn cắp là ‘chôm chỉa‘, tương tự như ‘nhám tay‘ hay ‘cầm nhầm‘ những thứ không phải của mình.
Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng ‘hia mão‘, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi ‘kép chầu’, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được nhập biên chế gánh hát, đêm đêm họ cũng xách valyse trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì ‘kép chầu’ thay thế vào ngay. ‘Kép chầu‘ phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.
Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là ‘đào thương’, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là ‘kép độc’. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là ‘café à la… ghi’ tức uống café thiếu ghi sổ…
Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi ‘nhật trình’. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là ‘tin kho tiêu‘, các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là ‘tin chó cán xe’, tin quan trọng chạy tít lớn gọi là ‘tin vơ-đét’ vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là ‘luộc bài‘, chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là ‘xào bài‘, truyện tình cảm dấm dớ gọi là ‘tiểu thuyết 3 xu‘, các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là ‘báo lá cải‘. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là ‘tin phịa‘, nhưng trong ‘tin phịa‘ còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là ‘tin ballons‘ tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là ‘tin Cá tháng Tư‘.
Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là ‘tịch‘, ‘hai năm mươi’, ‘mặc chemise gỗ‘, ‘đi auto bươn‘, ‘về chầu diêm chúa‘, ‘đi buôn trái cây‘ hay ‘vào nhị tỳ‘; ‘nhị tỳ‘ thay cho nghĩa địa và ‘số dách‘ thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.
Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là ‘vòng vo Tam Quốc‘, ai nói chuyện phi hiện thực gọi là ‘chuyện Tề Thiên‘, tính nóng nảy gọi là ‘Trương Phi‘. Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là ‘Nhạc Bất Quần‘ tức ám chỉ người ngụy quân tử, gọi là ‘Đoàn Chính Thuần‘ tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé…
Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng ‘ăn theo‘ mà ra đời.
Thời Mỹ đến thì một tiếng ‘OK Salem’, mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là ‘sén‘ hay ‘chó lửa’, dân chơi miệt vườn gọi ‘công tử Bạc Liêu’ còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ ‘dân chơi cầu ba cẳng’ thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi ‘dân chơi cầu ba cẳng’? Đó cũng là lúc các tiếng lóng như ‘dân xà bát’, ‘anh chị bự’, ‘main jouer’ tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là ‘anh hùng xa lộ’, bị bắt gọi là ‘tó‘, vào tù gọi là ‘xộ khám’. Bỏ học gọi là ‘cúp cua’, bỏ sở làm đi chơi gọi là ‘thợ lặn’, thi hỏng gọi là ‘bảng gót’. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó ‘đi ăn chè’ trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.
Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như ‘chà đồ nhôm’ tức chôm đồ nhà, ‘chai hia’ tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với ‘cưa đôi’. Lóng thời sự loại này có ‘tô ba lây đi xô xích le’ tức Tây ba lô đi xe xích lô. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than ‘buồn như chấu cắn’, hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng ‘lu bu’ để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm ‘lu xu bu’ nại lý do không rõ ràng để trốn việc.
Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành ‘quả tó’, gọi chiếc xe Honda là ‘con rim’, gọi tờ giấy 100 USD là ‘vé‘, đi ăn cơm bình dân gọi là ‘cơm bụi’, xuống phố dạo chơi gọi là ‘đi bát phố’, gọi người lẩm cẩm là ‘dở hơi’…
Nhưng lý thú nhất là nhờ cụ cố nhà văn Nguyễn Tuân mà Sài Gòn nay có một tiếng lóng hiện đại thay cho cụm từ đi ăn nhà hàng theo American style – tiền ai nấy trả. Đó là cụm lóng KAMA, ghép bốn chữ tắt của ‘không – ai – mời – ai’. Đi KAMA phở một cái, tức cùng đi ăn phở mà không ai mời ai, món ăn cổ truyền nhưng ứng xử là thoải mái. Vào thời văn minh hiện đại, ngôn ngữ tiếng Anh trở thành phổ biến, giới trẻ đã chế ra một tiếng khá văn hoa, như chê một ai đó chảnh, các cô nói ‘lemon question’ tức chanh hỏi – chảnh – (mở ngoặc: hoặc nói chệch đi: lê-mông-wét-trần! )

Chuyện “Cái giọng Sài Gòn”
(Hải Phan)
Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười he he he XXX xuống dưới ấy… Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá! Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn ở với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi…
Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong
Chuyện con gái Sài Gòn “mỏ” có cong không thì hông biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẫu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ “hônggg…” khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, lấy gương ra soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.
Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy…
Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…
Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…
Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen mầy!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm “v” như “về, vui, vườn, võng” nó cảm giác sao sao á, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào…

Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, Tp HCM, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là người Hoa, và một số người tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa, làm ăn, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.
Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì…” là mượn của người Hoa, những từ như “xà quầng, mình ên…” là của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.
Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ làm sao.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay…
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”
Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.
Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.
Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó…tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.
Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì “Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” – còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi. Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.
Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :
Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ
…..
Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ – Sài Gòn á nghen.
Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…
Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành “Hai ơi Hai, em nói nghe nè…” và “Gì dzạ Út ?”…Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì “Hai ơi Hai…em nói nghe nè!”.
Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi…rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể “anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba…” một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi…lâu.
Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.
Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…
Tản mạn Sài Gòn.
Sài Gòn đối với đa số dân Sài Gòn gạo cội không phải là “thành phố 10 mùa hoa”, “thành phố mang tên Bác”, hay thành phố cay cú “tôi mất người như người đã mất tên“, …
Sài Gòn hiền lành hơn thế nhiều. Dân Sài Gòn vốn vẫn thờ ơ với chính trị, nhất là thứ chính trị Salon vô bổ, nhiều lời lẽ, thiếu tính thực tế.
Dân Sài Gòn chính hiệu “con nai vàng” chẳng bao giờ gọi Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Không nhất thiết là vì lý do chính trị. Thằng Tí thằng Tèo trong mắt bà ngoại trăm năm vẫn là thằng Tí thằng Tèo, bất kể địa vị xã hội của nó là gì. Tôi có nói chuyện với vài bạn trẻ ở miền Bắc mới sang Mỹ, nghe họ dùng “thành phố Hồ Chí Minh” để nói đến Sài Gòn, thấy quai quái thế nào ấy, dù tôi chẳng có lý do gì chính đáng.
***
Sài Gòn, dù trong thời buổi khó khăn nhất, vẫn như một cô tiểu thư đài các: đỏng đảnh đôi chút mà dễ thương thiệt nhiều.
Nhắc đến Sài Gòn người ta hay nhắc đến mưa, nhưng tôi lại nhớ dai dẳng cái nắng gay gắt của nó.
Nhà tôi ở một con đường nhỏ. Trưa hè đặt cái “lưng dài vai rộng” xuống nền gạch bông mát lịm, ngắm bầu trời xanh ngắt, gió nhẹ hiu hiu, thì không có nơi nào trên quả đất này cho cảm giác thanh bình hơn.
“Một ngõ vắng xôn xao
Nằm trong lòng phố lớn …”
Khác với Hà Nội, không gian Sài Gòn rất thoáng, chí ít là cách đây hơn 15 năm. Không gian của một buổi trưa hè hiu gió còn thoáng hơn vạn lần. Tôi luôn có cảm giác mình có thể bay bổng lên, thò tay với cụm mây bồng bềnh trêu ngươi.
Tuy thoáng, không gian Sài Gòn không bao giờ làm ta cảm thấy lạc lõng. Những tiếng rao thi thoảng của người bán dạo nghe nao nao, cuộn cả buổi trưa hè thành một miếng bột bánh bèo trắng phau với ít đậu xanh, mỡ hành, nước mắm đường ngọt lịm.
Từ ve chai, bánh bao chỉ, chè đậu xanh bột báng nước dừa, kẹo kéo, tàu hủ, đến mì gõ, … đều có nguời mang đến tận cửa. Có rất nhiều tiếng rao mà đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nghĩa, nhưng nghe cái cung nhạc ấy thì biết ngay là họ bán cái gì.
Người Sài Gòn cũng thoáng như không gian Sài Gòn vậy! Không đâu có thể dễ có nhiều bạn, và bạn không tồi, như ở Sài Gòn. Không chỗ nào trên đất Việt Nam người ta sống năng động và khoáng đạt hơn ở Sài Gòn.

***
Trước khi bàn chuyện “người lớn” này, xin mạn phép quay lại chuyện thằng Tí thằng Tèo.
Ðối với một thằng Tèo Sài Gòn chính gốc con nhà nòi thì Sài Gòn dĩ nhiên là “bự” hơn một buổi trưa hè.
Sài Gòn là những chiều tụ tập bấm chuông nhà người ta, cho đến khi nghe chửi “D.M. tụi bai con cái nhà ai mất dại bấm chuông wài dzậy” thì mới chịu vắt giò lên cổ chạy.
Sài Gòn là các hồ bơi Lao Ðộng, Chi Lăng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, là mấy củ khoai mì nóng hổi với dừa nạo, là nước mía lạnh, là ốc dích ốc táng, là bắn bi ca-de với những câu đồng dao khó hiểu như thần chú: “lang cang báng dội ăn tiền”. Nói sai hay nói thiếu một chữ là đánh nhau chí tử để rồi ngày mai lại càu nhàu chơi tiếp.
Sài Gòn là những buổi tối cúp điện, tụ họp ca hát hay vừa hồi hộp vừa thích thú nghe và kể chuyện ma như chính mắt mình thấy hôm qua.
Sài Gòn là những con diều làm đi làm lại, treo thêm cả vài cái lưỡi lam để cắt dây diều khác; là dế hộp quẹt thổi phù phù “đá bắt xác”; là chùm ruột chua ngọt, những cùi thơm, cóc ổi ngâm cắm que cà rem “đa năng” không biết đã được dùng lại bao nhiêu lần.
Lớn lên một tí, Sài Gòn là cô bé hồi hộp chờ thằng Tèo hái cho cả cành phượng về ép làm bướm; là hàng điệp trải thảm vàng rực ở trường phổ thông; là quán cà phê từng buổi đón em về.
Xin trích đoạn một bài hát tôi viết đã lâu, đặt tên (rất tự nhiên) là “Lâu Lâu”:
“Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Buổi trưa thường hái trộm me
Thằng leo, thằng đứng làm thang …
…
Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Phượng cao mấy cũng trèo lên
Chỉ vì cô bé mắt tròn xoe, … mắt tròn xoe”
Dĩ nhiên, cô bé mắt tròn xoe của tôi vẫn đang ở … Sài Gòn.
Sài Gòn đáng yêu lắm! Nó đơn giản và khoáng đạt, không bao giờ cần cái văn vẻ “màu mè ba lá hẹ”, không cần các suy nghĩ tự tôn ra vẻ triết gia hướng nội, để phải miệt thị kẻ khác quan điểm.

***
Sài Gòn còn là thành phố của sự đối lập: giữa những biệt thự kín cổng cao tường và đám nhà ổ chuột trên kênh hôi hám; giữa văn minh đô thị và những tiếng chửi thề; giữa sự ồn ào bụi bặm và không gian im lắng thanh tao. Nổi bật hơn tất cả là sự đa dạng vô cùng của con người Sài Gòn. Ðặc biệt là họ không sống “như đã từng được sống“, mà luôn “sống như chưa được sống bao giờ“.
***
Ân mình sau các hàng bông giấy, dây thủy tiên chói đỏ, là những ngôi biệt thự lúc nào cũng kín cổng. Không ai biết những người sống trong đó làm gì, là ai, và cũng chẳng ai thật sự quan tâm … ngoại trừ bọn thằng Tí thằng Tèo.
Bọn nhóc chúng tôi thường có rất nhiều các truyền thuyết về những người sống trong mấy ngôi nhà ấy.
Ơ đầu ngõ nhà tôi cách đây khoảng 20 năm có một ngôi nhà như thế, chỉ hơi khác là hai cánh cửa sắt to đùng lại thấp lè tè. Mỗi chiều có một anh chàng vác ghế đẩu cao ngồi tì tay lên cửa trông ra đường. Gã chẳng bao giờ cạo râu cắt tóc. Mặc dù nắng chiều rạng rỡ xóa bớt phần nào sự ma quái, bọn tôi vẫn chẳng dám đến gần gã. Người ta có rất nhiều “lý thuyết” khác nhau về gã: nào là người yêu bỏ đi Mỹ, bị công an lấy mất gia tài, vân vân và vân vân. Cuối cùng hình như hắn chỉ giả điên để trốn nghĩa vụ quân sự . Ðến khi hết tuổi người ta thấy hắn cạo râu, cắt tóc ngắn chờ ngày xuất cảnh.
Dù gì thì gì, những ngôi biệt thự vẫn là nguồn cảm hứng vô tận cho hàng tỉ câu chuyện mê li rùng rợn bọn tôi truyền miệng mỗi tối cúp điện.
Chỉ cách những tòa lâu đài ấy vài trăm mét là một xóm lao động nghèo với những “truyền thuyết” kiểu khác hẳn: truyền thuyết về các “anh hùng” du đãng như trong tiểu thuyết Duyên Anh. Có lần một trong những anh hùng nổi tiếng nhất “xóm Chùa” mang dao đứng giữa ngã Năm thách đấu công an phường. Cuối cùng một anh công an nhảy vào đánh tay đôi với hắn và buộc phải dùng súng hạ gã.
Ði thêm khoảng trăm mét nữa là đến con rạch thúi hơn cầu tiêu công cộng ở Ðại Học Bách Khoa tỉ lần. Vậy mà tôi vẫn từng đi câu cá bống, vớt trùng chỉ với lũ bạn. Câu cả ngày được 2 con cá nhỏ hơn ngón tay út. Chỉ có trùng chỉ là lần nào cũng vớt được rất nhiều, làm mấy con cá Tàu nhà tôi ăn sình bụng bơi lặc lè kéo theo dây phân dài cả thước.
“Xóm” tôi có khá nhiều nhà có piano. Chiều chiều nghe lũ nhỏ tập từ Methode Rose, Hannon đến Classic 3, từ sòn đô sòn đến Tempest. Lẫn vào trong đó luôn là tiếng chửi thề của bà Tư nhà bên cạnh. Có lẽ chẳng có món “xí quách” nào … xí quách hơn sự pha tạp của hai loại âm thanh ấy.
Buổi chiều ở Sài Gòn đối lập hẳn với buổi trưa yên tĩnh. Dường như cái dìu dịu của nắng ấm làm người ta có nhiều năng lượng hơn. Chí ít là bà Tư lúc nào cũng có thừa năng lượng vào buổi chiều. Bà chửi từ ông Tư tới thằng con mất dạy. Ỏng Tư thì chẳng nói lại nhiều lời trừ khi mới nhậu xong. Chai rượu đế gò đen (chứ hổng phải ổng) vác dao bửa củi gí vào cổ bà vợ to béo, gã con trai thì vừa can vừa … đục luôn ông già, trong lúc đó tiếng Tempest vẫn vang vang ngắt quãng.
Ðiểm lạ (!?) nhất là tiếng Tempest vài năm sau biến mất, còn vợ chồng ông bà Tư vẫn sống “vui vẻ” với nhau như thế …
***
Tính đối lập của Sài Gòn rõ nét nhất là vào buổi tối . Người ta đã viết rất nhiều về “Hòn Ngọc Viễn Ðông” và tính phân chia giai cấp khắc nghiệt của nó. Ðó là trước 75. Sau giải phóng cái danh hiệu Hòn Ngọc Viễn Ðông bị Bangkok cướp mất, nhưng tính đối lập của Sài Gòn chẳng ai cướp nổi.
Sài Gòn không bao giờ ngủ. Khoảng 9, 10 giờ đêm là các vũ trường bắt đầu hoạt động. Bọn con nhà giàu tí tởn hẹn hò dream, LA, su 100, quần xẻ, váy cao, phóng vù vù qua các đường Nguyễn Huệ, Ðồng Khởi, Hàm Nghị … sau đó vọt đi mấy cái Discoteques vang bóng một thời như Thái Sơn, Cadillac, Queen Bees, …
Phong trào đua xe thì Sài Gòn luôn đi đầu. Thủa chưa có nhiều xe gắn máy thì bọn choai choai đã biểu diễn đi xe đạp một bánh xoay mòng mòng hàng đêm trước nhà hát lớn. Ðến khi có xe gắn máy nhiều rồi thì cả đội “Bồ Câu Trắng” cũng chẳng bị ai ngán. Hơn nữa bị giam xe thì một bữa chân gà rút xương ở Hàm Nghi là lấy xe ra cái rụp.
Khuya hơn nữa thì gái “Ca Ve” tràn về các quán cơm tấm, mì xe để “đá đèn” (ăn đêm). Bọn “dân quậy” bao gồm lũ nhóc mới lớn lẫn dân giang hồ thứ thiệt cũng tham gia đá đèn la hét đến 3, 4 giờ sáng.
Cùng khi đó các em nhỏ bán vé số cũng hoạt động cật lực. May mà vớ phải dân chơi trúng quả nó mua cả cọc thì ngày mai không phải lo tiền ăn. Cựu chiến binh, thương phế binh thì vác đàn hát “Phố Ðêm”, cay đắng xin từng đồng của lũ nhỏ mặt búng ra sữa chưa bao giờ hiểu hai chữ “mất mát” nghĩa là gì.
Ðến 3, 4 giờ sáng, khi lũ dân chơi đã hoàn toàn mệt lử lũ lượt ra về, thì dân lao động bắt đầu một ngày mới. Xích lô, ba gác chở rau thịt ra chợ bán. Các lò bánh mì bắt đầu xay bột trét bơ nướng bánh thơm lừng. Mấy chị bán cà phê vỉa hè cũng bắt đầu đun nước, pha cà phê vợt cho gã xích lô mới tỉnh ngủ mắt vừa nhắm vừa mở vừa tán tỉnh.
Mùi mồ hôi lẫn với mùi bơ, mùi men, mùi khói SU-100 dần biến, quyện với mùi không khí ẩm mát tinh sương tạo ra “mùi Sài Gòn” buổi sáng ở các khu phố chợ rất đặc trưng.
***
Dân Sài Gòn “quái chiêu” lắm, lúc nào cũng than thiếu tiền, nhưng không sống tằn tiện bao giờ! Họ hào hiệp với bản thân và bè bạn; và họ luôn tìm được cách kiếm tiền.
Nhiều người bảo tôi rằng dân Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi, sống hôm nay khỏi lo ngày mai, nên họ sống rộng rãi hơn dân miền Trung và miền Bắc.
Có lẽ đúng. Nhưng còn cái gì đó hơn thế nữa! Kiểu ăn xài “xả láng sáng dậy sớm”, dù nghèo rớt mồng tơi, dường như ăn vào máu của dân Sài Gòn, ăn vào không khí họ thở hàng ngày, ăn cả vào cái văn hóa hổ lốn cẩu xực của họ. Dĩ nhiên để ăn xài thì đầu tiên phải kiếm ra tiền.
Kiếm tiền thì có lẽ không đâu có nhiều cách như Sài Gòn.
Trong thời còn ăn bo bo, gạo tổ đỏ lòm, thời dân Hà Nội còn ganh nhau từng cái khung Chiến Thắng, lốp Phượng Hoàng, hộp sữa cân đường tiêu chuẩn, thì dân Sài Gòn đã bắt đầu nuôi heo lậu, quấn thuốc lá Lạng Sơn pha lá dừa, làm pháo giả, bán thuốc Tây “bột năng” đầy ngoài chợ … Hiển nhiên một phần là do ưu thế xa “trung ương”, nhưng phần chính là do dân Sài Gòn sống rất “năng động”.
Những năm 79, 80 mà thấy anh nào bị cối kẹp nách, mặt mũi lấm lét ở chợ Nguyễn Hữu Cầu thì biết ngay là hắn buôn thuốc Tâỵ Sau khi chợ thuốc Tây bị dẹp thì đường Nguyễn Hữu Cầu biến thành cái chợ trời đầu tiên của Sài Gòn sau 75. Ỏi thôi thì quần zin áo pun, đồ Mỹ lẫn đồ chợ Lớn, bếp điện Liên Xô dây Gò Vấp, … Ơ Sài Gòn cái gì bán được là có người bán. Ðừng hòng mà mua được đồ xịn nếu mà không quen biết hay hiểu biết. Nhiều người tự thị là “rành” nhất bị lừa mà vẫn còn hí hửng. Ðó là chưa nói đến giá cả trời ơi. Tôi thường tự hỏi ai cũng bán hết thì lấy ai ra mà mua? Tiền đâu ra mà mua? Thế mà chợ lúc nào cũng đông. Ðúng là Sài Gòn!
Nếu không thích cảnh chợ búa “gần mực” thì người ta quấn thuốc lá, nuôi heo với cơm thừa canh cặn pha cám lậu ở ngay trong nhà. Chuồng heo phải lau rửa ít nhất hai lần một ngày, sợ hôi thì ít, mà sợ công an phát hiện thì nhiều . Lái heo bốn rưỡi sáng đã mang xe ba gác đến chở. Bọn lái heo lậu giết heo còn giỏi hơn công nhân chuyên giết-mổ heo ở xí nghiệp Cầu Tre sau nàỵ Chích điện con heo chỉ kêu cái “éc” là chết ngoẻo tò te, xẻ làm bốn mất độ mươi phút, sáng hôm sau bà con có thịt heo tươi bán ở chợ
Khi xí nghiệp nước đá Sài Gòn chưa ra đời thì nhà nhà làm đá, người người bán nước đá. “Cho con 2 cục đi dì ơi!” là câu cửa miệng trưa hè của dân Sài Gòn. Tiền điện thì vừa đắt cứa cổ vừa phải có tiêu chuẩn. Mua cả cái tủ lạnh chuyên làm đá bỏ mối tháng cho các quán cà phê vỉa hè cũng chỉ đủ tiền ăn trưa cho gia đình là giỏi.
Người ta còn buôn cả những thứ tưởng chừng như chẳng có người mua vào thời đó như pho mai Liên Xô thúi hoắc, bánh kẹo Vinabico, rượu XO pha rượu lúa, nước lã và cồn …
Ðến giữa và cuối thập niên 80 thì cơ hội kiếm tiền còn nhiều gấp bội. Sinh viên học sinh nghèo thì đi dạy thêm, quen biết hơn tí nữa thì đánh hàng Viễn Dương, hàng Ðông Ảu, buôn thuốc lá Campuchia, mua bán xe gắn máy kiếm vài chỉ dẫn “ghệ” đi chơi dễ như bỡn. Bọn Tèo kinh doanh còn buôn cả đất đai, làm xây dựng kiến tiền tỉ khi còn chưa ra trường. Không nhất thiết phải chúi đầu vào học kiếm suất đi Tây. Sống cái đã, ngày mai là chuyện của tương lai!
Kể cả các thầy dạy luyện thi đại học cũng biết làm ăn ra trò: xây thêm nhà mở lớp học, có cả lớp học máy lạnh cho con nhà giàu học riêng một lớp năm bảy đứa. Các thầy nổi tiếng rất biết marketing, dạy cả lớp giỏi lấy tiền ít để bọn nó thi thủ khoa mang danh tiếng cho thầy, chia lớp ra làm cả chục tầng tùy trình độ.
Các chị các cô khéo tay thì làm bánh, làm hoa giả, pha nước hoa bán đầy đường Ðồng Khởi, làm kem dừa, kem chuối tăng thu nhập gia đình.
Ðừng tưởng dân Sài Gòn chỉ lo làm ăn không đọc sách. Sài Gòn có vài trăm tiệm sách cũ mà dân nghiền sách nhẵn mặt. Từ sách Giải Tích Hàm của Lê Hải Châu, sách Tuổi Hoa trước giải phóng, chưởng Kim Dung, đến hình ảnh sách báo khiêu dâm của Mỹ, HongKong hay báo Toán Học Tuổi Trẻ, Kvant, và mọi loại truyện ngắn, dài, tiểu thuyết nội ngoại, đều có cả.
Nhân chuyện buôn thuốc, tôi có thằng bạn đi Tây Ninh buôn hai cây thuốc Zet bị bắt tịch thu luôn cả cái xe dream. Rõ là ngu! Thằng cu phá phách kinh khủng, nhưng cũng vui tính ra phết. Có lần ngồi uống cà phê hắn bảo cô bán hàng: “Liên ơi cho anh mượn sợi dây thung.” – “Chi dzậy anh?”, Liên hỏị Nó bảo: “để anh thắt ống dẫn tinh”. Cô bé mặt đỏ lừ không biết có bỏ cái gì vào ly cà phê của nó không.
***
Sài Gòn là thế đấy, muôn người muôn mặt, đa dạng vô cùng!
Dù phần nào bị cuộc sống sôi nổi cuốn trôi, Sài Gòn vẫn có nhiều thằng Tèo mộng mơ làm thơ viết truyện dễ thương khôn tả: làm ăn tay phải, văn nghệ tay trái. Hình ảnh con Thơm cái Thắm hàng me gốc điệp không bao giờ phai nhạt trong mắt bọn Tèo Sài Gòn.
Tôi vẫn còn nhớ Tèo Nguyễn Nhật A’nh với “cô gái đến từ hôm qua”, “còn chút gì để nhớ”, “truyện cổ tích dành cho người lớn” …
“Lòng em như chiếc lá khoai
Ðổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu …”
Hay Tèo Bùi Chí Vinh:
“Cô gái ơi anh nhớ em,
Như con nít nhớ cà rem vậy mà
Như con dế trống đi xa,
Lâu lâu lại nhớ quê nhà gáy chơi
Con dế thường gáy một hơi,
Còn anh gáy hết … một thời con trai, …”
Ðến đây tôi chợt nhận ra rằng viết về “một thời để nhớ”, về những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ thì rất dễ, dễ đến mức cái thằng văn dốt chữ nát như tôi cũng “xổ nho” được vài dòng.
Khi viết cái gì ít vô thưởng vô phạt hơn một chút thì phải bắt đầu nhìn trước ngó sau, câu chữ trúc trắc, ý vẫn tràn nhưng sợ hiểu sai hiểu lệch, lại phải tránh chính trị chính em …
Tôi đã định dừng ở đây vì câu chuyện đã nhạt dần đi, cái hào hứng ban đầu của bạn đọc, nếu có, chắc cũng không còn nồng nhiệt nữa. Thế nhưng chẳng thể để lại trong lòng bạn đọc ấn tượng về một Sài Gòn với hai cây thuốc Zet, tôi lại phải tìm cách khác để kết thúc. Chỉ sợ rằng cũng chẳng khá hơn 2 cây thuốc Zet là mấy.
***
Nếu phải so sánh Sài Gòn với Hà Nội chẳng hạn, thì ta có thể so sánh ngay hai loại ổi của hai xứ. Ôi đào Hà Nội thơm lừng, ngọt ngay, ruột đỏ tươi rất đẹp, nhưng cùi mỏng, hột to, vừa khó nhá vừa chỉ nhắm được tí là hết. Ôi Sài Gòn to hơn nắm tay, cùi dày, không ngọt và thơm như ổi đào nhưng giòn tan, cắn một miếng là mát lịm, lại có thể chia cho nhiều người ăn, chấm muối ớt nghe qua là chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn cũng vậy, nghe qua là … chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn dễ thương lắm! Họ có cái nhìn trong trẻo về cuộc sống, lại chẳng giận dai vùng vằng vô lý bao giờ . Ði đón trễ thì: “anh để em chờ nãy giờ đó coi có được hông? Ghét dễ sợ luôn hà!” Cộng với một cái lườm, hai cái nguýt thì bọn Tèo Sài Gòn hối hận quá cả 2 tháng sau mới … trễ lần nữa.
Con gái Sài Gòn rất biết ăn mặc, đi đứng. Tiền có thể thiếu chứ phong cách tiểu thư thì chẳng thiếu bao giờ. Tiểu thư Sài Gòn không ưỡn ẹo mè nheo, mà phóng xe vèo vèo đứng tim Tèo.
Giọng gái Sài Gòn thì ngọt hơn mía lùi. Cái câu “hổng chịu đâu” mà nghe dân xứ khác nói thì ngứa lỗ nhĩ, nghe con gái Sài Gòn nói thì bọn Tèo Sài Gòn như bong bóng xì hơi, biểu cái gì cũng nghe ráo trọi. Con gái Sài Gòn lãng mạn chẳng kém ai, nhưng cũng rất thực tế. “Ðược thì được hổng được thì thôi, làm chi mà dzữ dzậy!”
Sài Gòn là vậy đó, ít nhất là từ cái nhìn của Tèo tôi . Còn ti tỉ nhiều đề tài thú vị về Sài Gòn mà tôi không muốn đề cập vì lười là chính: cuộc sống sinh viên học sinh Sài Gòn, các trò ma mãnh “cua ghệ” của bọn Tèo Sài Gòn, con trai Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn, …
Tôi đã nghe rất nhiều những lời nhận xét kiểu vơ đũa cả nắm: con trai Sài Gòn thế này, con gái Sài Gòn thế kia, dân Sài Gòn thế nọ … Càng nghe càng thấy buồn cười vì đa số những người nói mấy câu đó chưa bao giờ thật sự sống ở Sài Gòn. Không hiểu có ai đó đọc bài này xong thì có thay đổi cái nọ cái kia trong nhận thức của họ không? Hy vọng nhỏ nhoi của tôi là những thay đổi, nếu có, là theo hướng tốt hơn.
Riêng tôi thì tôi vẫn nhớ day dứt cái ngõ nhỏ xôn xao ấy …
Phản hồi gần đây